Bài 67/81 · How - Cách giao dịch Chứng khoánHọc thử miễn phí

Biên độ ±7% HOSE và ±10% HNX: vì sao hai sàn khác nhau

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 14/10/2026

Biên độ HOSE HNX khác nhau: cổ phiếu trên HOSE chỉ được dao động ±7% mỗi phiên, còn trên HNX là ±10%. UPCoM rộng hơn nữa, ±15%. Cùng một mức tin tốt hay tin xấu, ba sàn cho giá đi những quãng khác nhau trong một ngày.

Bài này trả lời ba câu hỏi. Con số biên độ nằm ở văn bản nào? Ai có quyền thay đổi nó? Khoảng chênh 3 điểm % tác động ra sao lên giá qua nhiều phiên? Quy định theo quy chế đang hiệu lực của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, áp dụng đến 02/10/2026.

Biên độ HOSE HNX nằm ở văn bản nào

Từ 16/03/2026, HOSE và HNX dùng chung một Quy chế Niêm yết và giao dịch chứng khoán niêm yết. Quy chế ban hành kèm Quyết định 22/QĐ-HĐTV của Hội đồng thành viên Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Quyết định 22/QĐ-HĐTV ngày 18/04/2025.

Dù chung quy chế, mỗi sở có bảng thông số riêng ở Phụ lục II. Phần của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ghi biên độ ±7% so với giá tham chiếu. Phần của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội ghi ±10%. Biên độ này không áp dụng cho trái phiếu doanh nghiệp trên HNX.

UPCoM có quy chế riêng, ban hành kèm Quyết định 23/QĐ-HĐTV ngày 18/03/2026. Khoản 1 Điều 19 đặt biên độ ±15%. Bài học biên độ giá chứng khoán Việt Nam có phần nhập môn cho người mới.

Ai quyết định biên độ

Khoản 1 Điều 31 quy chế niêm yết giao quyền cho Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. Sở quy định biên độ sau khi có ý kiến chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Con số cụ thể được công bố theo khoản 4 Điều 14, tức qua phụ lục của quy chế.

Với UPCoM, khoản 3 Điều 19 nói rõ hơn. Khi cần ổn định thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định điều chỉnh biên độ. Nghĩa là biên độ không cố định mãi mãi. Nó là một tham số quản lý, có thể nới hoặc thu hẹp.

Vì vậy, khi đọc một bài cũ nói về biên độ, hãy xem văn bản dẫn chiếu. Các con số theo quy chế đã bị thay thế có thể không còn đúng.

Vì sao biên độ HOSE HNX khác nhau

So sánh biên độ HOSE HNX ngày thường và ngày đặc biệt

Quy chế không ghi lý do cho từng con số. Phần dưới đây là cách hiểu về thiết kế, không phải trích văn bản.

Ba sàn đang được phân tầng theo mức độ chuẩn hoá. HOSE là nơi niêm yết của nhiều doanh nghiệp lớn. HNX có cả cổ phiếu niêm yết lẫn hệ thống UPCoM cho công ty chưa niêm yết. UPCoM có yêu cầu thấp nhất. Biên độ rộng dần theo đúng thứ tự đó: 7%, 10%, 15%.

Biên độ hẹp làm giá đi chậm hơn trong một phiên. Nó cho nhà đầu tư thời gian phản ứng với tin bất ngờ. Đổi lại, giá có thể cần nhiều phiên mới tới được mức hợp lý. Biên độ rộng thì ngược lại: giá tìm cân bằng nhanh hơn nhưng một phiên có thể mất nhiều tiền hơn.

Bước giá cũng khác. HOSE có ba bậc 10, 50 và 100 đồng. HNX và UPCoM dùng một bước 100 đồng cho khớp lệnh cổ phiếu. Với mã giá thấp trên HNX, một bước 100 đồng đã là một phần đáng kể của biên độ.

Biên độ ngày đặc biệt theo sàn

Khoảng chênh còn lớn hơn ở những ngày đặc biệt. Phụ lục II của quy chế niêm yết và Điều 19 quy chế UPCoM liệt kê như sau:

Trường hợp

HOSE

HNX

UPCoM

Ngày thường

±7%

±10%

±15%

Ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu mới

±20%

±30%

±40%

Giao dịch lại sau 25 phiên tạm ngừng trở lên

±20%

±30%

±40%

Một số ngày không hưởng quyền cũng được nới biên độ. Ví dụ ngày trả cổ tức bằng tiền có giá trị lớn hơn hoặc bằng giá đóng cửa của phiên liền trước. Hay ngày trả cổ tức, thưởng bằng cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu. Trên HOSE, riêng trường hợp chào bán cổ phiếu quỹ cho cổ đông hiện hữu thì vẫn giữ ±7%.

Biên độ HOSE HNX qua nhiều phiên

Biên độ HOSE HNX qua ba phiên tăng trần liên tiếp

Khác biệt 3 điểm % nghe nhỏ, nhưng nó nhân lên theo số phiên. Giả sử một mã tăng trần ba phiên liền và bỏ qua phần làm tròn.

Trên HOSE, giá sau ba phiên bằng 1,07 mũ 3, tức tăng khoảng 22,5%. Trên HNX là 1,1 mũ 3, tăng khoảng 33,1%. Trên UPCoM là 1,15 mũ 3, tăng khoảng 52,1%. Chiều giảm cũng vậy. Ba phiên sàn liền nhau trên HOSE làm giá mất khoảng 19,6%. Trên HNX là khoảng 27,1%.

Con số này quan trọng khi bạn quản trị rủi ro. Cùng một tỷ lệ vốn đặt vào, vị thế trên HNX hay UPCoM có thể lỗ nhanh hơn. Nếu mã ít thanh khoản và giảm sàn liên tục, bạn có thể không bán được cho tới khi giá đã xuống sâu.

Biên độ hẹp cũng tạo ra cảnh "xếp hàng". Khi tin rất tốt, giá chạm trần sớm và lệnh mua dồn ở mức trần. Phần định giá lại bị đẩy sang các phiên sau. Bài biên độ giao dịch giá cổ phiếu Việt Nam bàn thêm về hiện tượng này.

Biên độ thực sau làm tròn

Điều 32 quy chế niêm yết yêu cầu làm tròn giá trần xuống, giá sàn lên theo đơn vị yết giá. Vì vậy biên độ thực thường thấp hơn con số danh nghĩa một chút.

Ví dụ mã HNX có giá tham chiếu 12.300 đồng. Trần tính ra 13.530 đồng, làm tròn còn 13.500 đồng, tức tăng khoảng 9,76%. Mã giá thấp càng chịu ảnh hưởng nhiều. Với giá tham chiếu 1.500 đồng trên HNX, 10% chỉ là 150 đồng. Sau làm tròn, giá trần là 1.600 đồng, giá sàn là 1.400 đồng, chỉ cách tham chiếu đúng một bước giá.

Trên HOSE, bước 10 đồng cho mã dưới 10.000 đồng giúp biên độ thực sát với 7% hơn.

Lưu ý khi giao dịch hai sàn

Trước khi đặt lệnh, hãy kiểm tra mã nằm ở sàn nào. Ký hiệu sàn trên bảng giá cho biết ngay biên độ và bước giá áp dụng.

Khi so sánh mức tăng giảm giữa các mã, hãy quy về biên độ của sàn. Mã HNX tăng 7% chưa chạm trần. Mã HOSE tăng 7% là đã kịch trần. Hai tín hiệu đó không giống nhau.

Cuối cùng, chọn cỡ vị thế theo kịch bản xấu nhất của sàn. Với HOSE, một phiên xấu nhất là 7%. Với HNX là 10%, UPCoM là 15%. Cách tính giá trần, giá sàn cụ thể có trong bài học quy định bước giá chứng khoán.

Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.

Watchlist

Đang tải…