Bài 25/29 · Định giá cổ phiếu ngân hàngHọc thử miễn phí
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập: đo bộ máy một ngân hàng gọn hay nặng
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 31/10/2026
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập ngân hàng là phép chia đơn giản: lấy chi phí hoạt động chia cho tổng thu nhập hoạt động. Kết quả cho biết ngân hàng phải bỏ bao nhiêu đồng chi phí để tạo ra một trăm đồng thu nhập.
Chỉ số này không nói ngân hàng lãi nhiều hay ít. Nó nói bộ máy gọn hay nặng. Nó cũng cho biết ngân hàng còn dư địa cải thiện lợi nhuận mà không cần cho vay thêm. Số liệu trong bài tính đến 02/10/2026.
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập
Tử số là chi phí hoạt động: lương, trụ sở, công nghệ, khấu hao, quản lý. Nó không gồm chi phí lãi trả người gửi. Nó cũng không gồm dự phòng rủi ro tín dụng.
Mẫu số là tổng thu nhập hoạt động. Nó gồm thu nhập lãi thuần cộng lãi thuần từ dịch vụ, ngoại hối, chứng khoán và hoạt động khác.
Một điểm hay bị nhầm là lấy chi phí hoạt động chia cho thu nhập lãi thuần. Làm vậy thì ngân hàng nào có nhiều thu ngoài lãi sẽ bị tính ra tỷ lệ cao giả tạo. Mẫu số phải là tổng thu nhập hoạt động.
Nên tính trên bốn quý liên tiếp thay vì một quý. Chi phí ngân hàng có mùa vụ. Quý 4 gánh thưởng cuối năm và các khoản quyết toán, nên tỷ lệ luôn xấu hơn ba quý đầu.
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập: ngưỡng

Bảng dưới là tỷ lệ của tám ngân hàng niêm yết, tính trên bốn quý gần nhất đến quý 2/2026.
Ngân hàng | Tỷ lệ chi phí trên thu nhập | Tổng thu nhập hoạt động (tỷ đồng) | Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ (tỷ đồng) |
|---|---|---|---|
VPB | 22,4% | 85.945 | 29.816 |
MBB | 28,4% | 72.989 | 30.078 |
CTG | 28,5% | 97.410 | 40.173 |
TCB | 30,9% | 57.653 | 27.116 |
ACB | 31,9% | 34.638 | 15.678 |
BID | 32,7% | 95.562 | 32.256 |
VCB | 34,0% | 84.873 | 41.648 |
STB | 35,8% | 33.979 | 3.080 |
Nguồn: BCTC hợp nhất VPB, MBB, CTG, TCB, ACB, BID, VCB, STB · HODL.VN
Trung vị nhóm là 31,4%. Khoảng cách giữa ngân hàng gọn nhất và nặng nhất là 13,4 điểm %. Với mỗi trăm đồng thu nhập, nơi gọn giữ lại nhiều hơn nơi nặng khoảng 13 đồng, trước khi trích dự phòng.
Mức dưới 30% thường thuộc ngân hàng cho vay bán buôn nhiều, ít phòng giao dịch, hoặc đã số hoá sâu. Mức trên 35% thường rơi vào ngân hàng mạng lưới rộng, nhiều nhân sự, hoặc đang đầu tư công nghệ.
Tỷ lệ thấp chưa chắc là tốt

Tỷ lệ thấp có hai nguồn gốc rất khác nhau, và chỉ một trong hai là tin vui.
Nguồn thứ nhất là thu nhập tăng nhanh hơn chi phí. Đây là tin vui thật, vì bộ máy cũ tạo ra nhiều tiền hơn.
Nguồn thứ hai là cắt chi phí: giảm tuyển dụng, hoãn dự án công nghệ, đóng bớt điểm giao dịch. Tỷ lệ đẹp lên ngay trong vài quý. Nhưng phần cắt đi có thể quay lại thành chi phí cao hơn sau vài năm.
Cách phân biệt là tách tử số và mẫu số, xem từng cái tăng giảm bao nhiêu so với cùng kỳ. Chi phí đi ngang mà thu nhập tăng hai chữ số là nguồn thứ nhất. Thu nhập đi ngang mà chi phí giảm thì phải đọc thuyết minh xem khoản nào bị cắt.
Cũng cần nhìn chỉ số này cùng dự phòng rủi ro tín dụng. Bộ máy gọn mà trích dự phòng lớn thì vẫn lãi mỏng. Sacombank là ví dụ. Tỷ lệ chi phí 35,8% đã nặng. Hơn một nửa thu nhập lại đi vào dự phòng, nên phần cho cổ đông chỉ hơn 3 nghìn tỷ đồng.
Chi phí trên thu nhập ngân hàng: so
Ba quy tắc giúp phép so không bị lệch.
- So cùng mô hình kinh doanh. Ngân hàng bán lẻ luôn tốn hơn ngân hàng bán buôn, vì phải nuôi phòng giao dịch và nhân sự.
- So cùng kỳ bốn quý, không lấy quý lẻ, để triệt mùa vụ.
- Nhìn xu hướng ba năm thay vì một con số. Ngân hàng đang đầu tư công nghệ có thể xấu đi hai năm rồi tốt dần, đó là đường cong bình thường.
Chỉ số này đi cùng ba thước đo khác: tỷ trọng thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ dự phòng trên tổng thu nhập, và giá trên giá trị sổ sách. Muốn nắm cấu trúc một bộ báo cáo trước, xem cấu trúc báo cáo tài chính.
Thuật ngữ trong thuyết minh tra ở danh sách thuật ngữ báo cáo tài chính. Muốn ghép chỉ số này vào khung định giá đầy đủ, xem các mô hình định giá chứng khoán.
Nội dung trên để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.