Phân tích cổ phiếu CTS Quý 4/2026: Lãi quý III còn 5 tỷ, lãi vay vượt lãi cho vay
Nội dung bài17 phần
- Định giá cổ phiếu CTS: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Danh mục tự doanh
- Doanh thu đến từ mảng nào
- Thị phần môi giới HOSE
- Cho vay ký quỹ và lãi vay
- Vay nợ và đòn bẩy
- Cổ đông và thanh khoản
- Khối ngoại và tự doanh
- So sánh cùng ngành
- Định giá cổ phiếu CTS: P/B
- Định giá cổ phiếu CTS: P/B hợp lý
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Cổ tức và tăng vốn
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
Định giá cổ phiếu CTS Quý 4/2026 bắt đầu từ dòng cuối của báo cáo kết quả kinh doanh. Lợi nhuận sau thuế quý III/2026 chỉ còn 5,0 tỷ đồng, giảm 98,2% so với 270,5 tỷ cùng kỳ và thấp nhất trong 15 quý từ đầu năm 2023.
Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 21.000 đồng, ứng với P/B 2,00 lần, cao thứ hai trong 30 công ty chứng khoán đã có báo cáo quý III, trong khi ROE bốn quý chỉ còn 3,9%.
Bài tách lợi nhuận quý III theo từng dòng, đặt lãi cho vay cạnh lãi vay, đọc danh mục tự doanh trong thuyết minh, kiểm thị phần môi giới HOSE và dòng tiền khối ngoại. Phần sau so sánh với bảy công ty chứng khoán cùng bậc quy mô, định giá bằng nhiều phương pháp và đọc đồ thị tuần.
Mọi con số dưới đây tự tính từ báo cáo tài chính và dữ liệu giá, chốt tại phiên 30/10/2026.
Điểm chính
- Lợi nhuận sau thuế quý III/2026 là 5,0 tỷ đồng, giảm 98,2%; chín tháng đạt 86,3 tỷ, giảm 84,4%. Lợi nhuận trước thuế chín tháng bằng 23,6% kế hoạch 454 tỷ nên quý IV cần khoảng 347,0 tỷ, gấp 54,8 lần quý III.
- Tự doanh FVTPL ròng đảo từ lãi 251,5 tỷ sang lỗ 44,8 tỷ, một dòng chiếm 296,3 tỷ trong 331,5 tỷ lợi nhuận trước thuế đã mất.
- Lãi cho vay 155,7 tỷ (tăng 31,5%) vẫn thấp hơn lãi vay 157,0 tỷ (tăng 66,0%): tỷ lệ bao phủ 0,99 lần, so với 1,25 lần cùng kỳ; chi phí vay quy năm lên 7,86% từ 4,72%.
- Vay ngắn hạn bằng 268,6% vốn chủ, trung vị nhóm so sánh 164,9%; thị phần môi giới HOSE nằm ngoài top 10, dưới 2,81%, doanh thu môi giới quý III giảm 58,3%.
- Giá ứng với P/B 2,00 lần (trung vị nhóm 1,12 lần) và P/E 51,3 lần; giá ngầm định ROE bền vững 21,0% so với 3,9% thực tế, và 11 trong 12 phép định giá thấp hơn giá.

Định giá cổ phiếu CTS: quy mô
Chứng khoán VietinBank giao dịch trên HOSE với mã CTS, đổi tên từ Chứng khoán Ngân hàng Công thương tháng 11/2025. Tổng tài sản cuối quý III/2026 là 11.314,1 tỷ đồng, thấp hơn 15,3% so với đỉnh 13.354,2 tỷ của quý I/2026.
Vốn chủ sở hữu 2.858,8 tỷ đồng, tăng 1,8% sau một năm. Vốn góp tăng 28,0% lên 2.722,4 tỷ nhờ cổ phiếu thưởng chứ không phải tiền mới, nên mọi chỉ số bốn quý trong bài đều tính trên 272,2 triệu cổ phiếu hiện hành.
Chỉ tiêu (tỷ đồng) | Q3/2025 | Cuối 2025 | Q2/2026 | Q3/2026 | So với Q3/2025 |
|---|---|---|---|---|---|
Tổng tài sản | 11.395,6 | 12.410,7 | 12.247,5 | 11.314,1 | −0,7% |
Tài sản tài chính FVTPL | 1.844,0 | 2.067,6 | 2.780,8 | 2.765,8 | +50,0% |
Các khoản cho vay | 4.945,8 | 4.964,3 | 5.321,8 | 5.112,1 | +3,4% |
Đầu tư giữ đến ngày đáo hạn | 3.139,8 | 3.562,6 | 2.774,3 | 1.930,4 | −38,5% |
Tài sản sẵn sàng để bán | 978,4 | 817,2 | 673,4 | 552,6 | −43,5% |
Vay ngắn hạn | 8.118,7 | 8.423,0 | 8.303,0 | 7.678,6 | −5,4% |
Vốn chủ sở hữu | 2.808,7 | 2.855,4 | 2.866,0 | 2.858,8 | +1,8% |
Vốn góp của chủ sở hữu | 2.126,9 | 2.126,9 | 2.126,9 | 2.722,4 | +28,0% |
Quý III/2026, doanh thu hoạt động 410,2 tỷ đồng, giảm 37,2% so với cùng kỳ nhưng tăng 14,9% so với quý II. Lợi nhuận trước thuế 6,3 tỷ đồng, giảm 98,1%, và lợi nhuận sau thuế 5,0 tỷ, giảm 67,8% so với 15,4 tỷ của quý II.
Doanh thu giảm hơn một phần ba còn lợi nhuận mất gần hết. Cộng chín tháng, doanh thu 1.119,2 tỷ đồng giảm 34,0%, lợi nhuận trước thuế 107,0 tỷ giảm 84,4% so với 687,8 tỷ cùng kỳ. Bốn quý tới quý III, lợi nhuận sau thuế là 111,4 tỷ, so với 610,4 tỷ của bốn quý trước đó.
Mẫu biểu báo cáo của công ty chứng khoán khác hẳn doanh nghiệp thường. Người mới đọc nên xem trước cấu trúc báo cáo tài chính.
Theo thông tin kế hoạch năm 2026 của công ty, đối chiếu qua báo chí tài chính, lợi nhuận trước thuế mục tiêu là 454 tỷ đồng, giảm 36,5% so với 714,7 tỷ của năm 2025. Con số hoàn thành là bài tự tính: chín tháng đạt 23,6% kế hoạch.
Để đủ kế hoạch, quý IV cần khoảng 347,0 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, gấp 54,8 lần quý III và cao hơn mọi quý từ năm 2023 tới nay, kể cả quý III/2025 là quý cao nhất với 337,8 tỷ.

Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Lợi nhuận trước thuế đi từ 337,8 tỷ đồng xuống 6,3 tỷ đồng. Tách phần mất đi theo từng dòng của báo cáo kết quả kinh doanh, tổng các bước phải khớp đúng −331,5 tỷ đồng.
Nguồn | Tác động (tỷ đồng) | Cách tính |
|---|---|---|
Tự doanh FVTPL ròng | −296,3 | −44,8 so với +251,5, sau lỗ FVTPL và chi phí tự doanh |
Chi phí tài chính ròng | −63,0 | 157,1 so với 94,1, gần như toàn bộ là lãi vay |
Môi giới ròng | −19,4 | 4,6 so với 24,0 sau chi phí nghiệp vụ |
Lãi đầu tư giữ đến đáo hạn và sẵn sàng để bán | −7,7 | 62,7 so với 70,4 |
Lãi cho vay | +37,4 | 155,7 so với 118,4 |
Chi phí quản lý | +14,9 | 22,5 so với 37,5 |
Dịch vụ, tư vấn và còn lại | +2,6 | |
Tổng: 337,8 xuống 6,3 | −331,5 | −98,1% |
Một dòng giải thích gần chín phần mười phần mất đi. Tự doanh FVTPL ròng giảm 296,3 tỷ đồng, bằng 89,4% mức giảm lợi nhuận trước thuế.
Lãi FVTPL quý III là 152,2 tỷ đồng, giảm 60,6%, trong đó lãi bán chỉ còn 5,3 tỷ so với 202,5 tỷ cùng kỳ. Lỗ FVTPL tăng 51,4% lên 193,2 tỷ, gần như toàn bộ là lỗ đánh giá lại 187,7 tỷ so với 116,2 tỷ.
Tách riêng phần đã chốt và phần chưa chốt thì bức tranh rõ hơn. Phần bán ra gần như hòa vốn: lãi bán 5,3 tỷ bị lỗ bán 5,5 tỷ xoá hết, so với lãi ròng 191,1 tỷ cùng kỳ. Phần đánh giá lại ra âm 43,8 tỷ, so với dương 64,8 tỷ.
Chín tháng đầu 2026, tự doanh FVTPL ròng là −58,3 tỷ đồng, so với +509,3 tỷ của chín tháng 2025. Năm 2025, tự doanh FVTPL ròng chiếm 74,0% lợi nhuận trước thuế chín tháng, nên khi dòng này đảo chiều thì không còn mảng nào đủ lớn để bù.
Mảng cho vay và chi phí vay chuyển động ngược nhau. Lãi cho vay tăng 37,4 tỷ nhưng chi phí tài chính ròng tăng 63,0 tỷ, nên phần tăng của mảng cho vay không đủ che phần tăng chi phí vốn.
Chi phí quản lý giảm 14,9 tỷ xuống 22,5 tỷ đồng, gần mức 21,4 tỷ của quý II. Môi giới ròng mất 19,4 tỷ vì doanh thu môi giới giảm hơn một nửa, nội dung ở mục thị phần phía dưới.
Bảng biến động vốn chủ cho thêm một góc nhìn. Theo bảng này, chín tháng đầu 2026 lợi nhuận sau thuế 86,3 tỷ gồm 154,3 tỷ lợi nhuận đã thực hiện và −68,0 tỷ lợi nhuận chưa thực hiện; cùng kỳ 2025 là 583,1 tỷ đã thực hiện và −30,8 tỷ chưa thực hiện.
Danh mục tự doanh

Thuyết minh báo cáo tài chính quý III cho biết danh mục FVTPL ở giá trị hợp lý là 2.765,8 tỷ đồng, thấp hơn giá gốc 2.810,4 tỷ là 44,5 tỷ. Cộng thêm nhóm sẵn sàng để bán, chênh lệch toàn danh mục so với giá mua là âm 44,4 tỷ, trái với dương gần 15 tỷ cuối quý II theo báo chí.
Danh mục FVTPL (tỷ đồng) | Đầu 2026 | Cuối Q3/2026 | Giá gốc cuối Q3 | Chênh lệch so với gốc |
|---|---|---|---|---|
Cổ phiếu niêm yết | 398,0 | 1.041,7 | 1.036,8 | +4,9 |
Trái phiếu niêm yết | 1.528,9 | 876,1 | 869,1 | +7,0 |
Trái phiếu chưa niêm yết | 80,9 | 691,4 | 669,8 | +21,6 |
Giấy tờ có giá | 0,0 | 93,4 | 92,0 | +1,3 |
Cổ phiếu chưa niêm yết | 53,4 | 57,9 | 138,4 | −80,5 |
Chứng chỉ quỹ | 6,4 | 5,4 | 4,2 | +1,2 |
Tổng FVTPL | 2.067,6 | 2.765,8 | 2.810,4 | −44,5 |
Cơ cấu danh mục đã đổi hẳn trong chín tháng. Cổ phiếu niêm yết tăng từ 398,0 lên 1.041,7 tỷ đồng, từ 19,3% lên 37,7% danh mục, còn trái phiếu niêm yết giảm từ 1.528,9 xuống 876,1 tỷ, từ 74,0% xuống 31,7%.
Danh mục nghiêng về cổ phiếu niêm yết nên lãi lỗ đánh giá lại theo sát thị trường chung. Trong nhóm này, khoản tăng giá 78,8 tỷ bị khoản giảm giá 74,0 tỷ triệt tiêu gần hết, chỉ còn +4,9 tỷ so với giá gốc.
Khoản lỗ lớn nhất so với giá gốc nằm ở cổ phiếu chưa niêm yết: giá gốc 138,4 tỷ, giá trị hợp lý 57,9 tỷ, thấp hơn 58,2%. Mức lỗ này đã có từ đầu năm (−85,0 tỷ) và thu hẹp 4,5 tỷ, nên không phải nguồn của cú rơi quý III.
Trái phiếu chưa niêm yết tăng gấp 8,5 lần từ 80,9 lên 691,4 tỷ đồng, và nhóm sẵn sàng để bán còn 552,6 tỷ, trong đó 470,5 tỷ là trái phiếu chưa niêm yết. Hai khoản cộng lại là 1.161,9 tỷ đồng, chiếm 35,0% của 3.318,4 tỷ giá trị hợp lý toàn bộ danh mục FVTPL và sẵn sàng để bán, và là loại tài sản khó bán lại nhanh khi cần tiền.
Tiền gửi có kỳ hạn là mảng đang co lại. Khoản đầu tư giữ đến ngày đáo hạn gồm toàn bộ tiền gửi kỳ hạn 6 đến 13 tháng, lãi suất 6,25% đến 10,15% mỗi năm, giảm từ 3.562,6 tỷ cuối 2025 xuống 1.930,4 tỷ cuối quý III, tức mất 1.632,2 tỷ.
Doanh thu đến từ mảng nào

Đây là phần quan trọng nhất khi đọc một công ty chứng khoán. Mô hình của CTS đang chuyển từ tự doanh sang cho vay, và hướng chuyển đó đổi luôn kiểu rủi ro của cổ phiếu.
Mảng (tỷ đồng) | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 | 9T/2026 |
|---|---|---|---|---|---|---|
Tự doanh FVTPL | 635,0 | 443,6 | 533,8 | 391,8 | 1.170,4 | 335,1 |
Giữ đến đáo hạn và sẵn sàng để bán | 89,5 | 102,5 | 234,4 | 184,4 | 259,9 | 216,0 |
Cho vay | 145,3 | 189,2 | 253,4 | 319,6 | 434,2 | 432,8 |
Môi giới | 148,9 | 101,7 | 100,3 | 105,2 | 180,8 | 98,7 |
Dịch vụ và khác | 45,9 | 35,1 | 22,3 | 31,2 | 50,7 | 36,6 |
Tổng doanh thu hoạt động | 1.064,6 | 872,2 | 1.144,2 | 1.032,2 | 2.095,8 | 1.119,2 |
Đổi sang tỷ trọng thì rõ hơn. Tự doanh FVTPL từ 55,8% doanh thu năm 2025 xuống 29,9% trong chín tháng đầu 2026, còn cho vay từ 20,7% lên 38,7%.
Lãi cho vay chín tháng 2026 là 432,8 tỷ đồng, đã gần bằng cả năm 2025 (434,2 tỷ) và vượt cả năm 2024 (319,6 tỷ). Riêng quý III, cho vay chiếm 38,0% doanh thu, tự doanh gộp ba nhóm 52,4% và môi giới 6,5%.
Môi giới từ 14,0% doanh thu năm 2021 xuống 8,6% năm 2025 và 6,5% ở quý III/2026. Công ty không sống bằng môi giới mà sống bằng vốn vay và danh mục, nên kết quả đi theo chi phí vốn và chỉ số chung.
Năm 2022 cho thấy độ nhạy đó: khi thị trường giảm sâu, doanh thu giảm 18,1% còn lợi nhuận sau thuế rơi 81,6% từ 386,5 xuống 71,1 tỷ đồng. Quý III/2026 rơi sâu hơn, 98,2%, dù doanh thu chỉ giảm 37,2%.
Người đọc muốn hiểu cơ chế cho vay ký quỹ có thể xem bài tài khoản margin chứng khoán.
Thị phần môi giới HOSE

Doanh thu môi giới giảm 58,3% nằm trong báo cáo tài chính. Thước đo trực tiếp cho mảng này là thị phần môi giới do HOSE công bố sau mỗi quý, mới hơn báo cáo tài chính.
Hạng | Công ty | Thị phần quý III/2026 |
|---|---|---|
1 | VPS | 11,54% |
2 | SSI | 11,09% |
3 | TCBS | 10,03% |
4 | Vietcap | 7,80% |
5 | HSC | 6,10% |
6 | MBS | 4,84% |
7 | VND | 3,90% |
8 | KIS Việt Nam | 3,72% |
9 | Mirae Asset | 3,03% |
10 | VPBankS | 2,81% |
Tổng top 10 | 64,86% | |
CTS | Ngoài top 10, dưới 2,81% |
CTS không có tên trong mười công ty lớn nhất, nghĩa là thị phần dưới 2,81% của hạng 10. Ba mã đầu giữ 32,66% thị trường, và 35,14% còn lại chia cho toàn bộ các công ty ngoài top 10, trong đó có CTS.
Bản công bố top 10 mà bài tra được không in thị phần riêng của CTS, nên bài chỉ nêu cận trên chứ không đoán con số cụ thể.
Doanh thu môi giới quý III là 26,6 tỷ đồng, giảm 58,3%, trong khi khối lượng khớp bình quân mỗi phiên của HOSE giảm 52,8% từ 1.420 xuống 671 triệu cổ phiếu. Môi giới CTS giảm nhiều hơn thị trường chung chút ít.

Cộng chín tháng 2026, doanh thu môi giới 98,7 tỷ, giảm 20,5% so với 124,2 tỷ cùng kỳ.
Điều đáng chú ý là chênh lệch quy mô. Doanh thu môi giới đã giảm ba quý liên tiếp: 43,4 tỷ quý I, 28,7 tỷ quý II và 26,6 tỷ quý III.
Cho vay ký quỹ và lãi vay

Dư nợ các khoản cho vay đạt đỉnh 5.439,6 tỷ đồng cuối quý I/2026, rồi giảm hai quý liên tiếp xuống 5.321,8 tỷ và 5.112,1 tỷ. Tăng trưởng một năm chỉ còn 3,4%, so với trung vị nhóm so sánh 12,1%.
Trong 5.112,1 tỷ, cho vay hoạt động ký quỹ là 5.050,4 tỷ và ứng trước tiền bán chứng khoán 61,7 tỷ. Dự phòng suy giảm cho vay chỉ 4,8 tỷ, bằng 0,09% dư nợ.
Chỉ tiêu (tỷ đồng) | Q3/2025 | Q4/2025 | Q1/2026 | Q2/2026 | Q3/2026 |
|---|---|---|---|---|---|
Dư nợ cho vay | 4.945,8 | 4.964,3 | 5.439,6 | 5.321,8 | 5.112,1 |
Lãi cho vay | 118,4 | 129,2 | 131,7 | 145,4 | 155,7 |
Lãi vay | 94,6 | 118,9 | 139,8 | 157,9 | 157,0 |
Lãi cho vay ÷ lãi vay (lần) | 1,25 | 1,09 | 0,94 | 0,92 | 0,99 |
Lãi vay đã vượt lãi cho vay ba quý liên tiếp từ quý I/2026. Quý III chỉ nhỉnh hơn một chút nhờ lãi cho vay tăng tiếp, ở mức 155,7 tỷ đồng, cao nhất trong bảng từ năm 2023.
Chỉ tiêu | Q3/2025 | Q3/2026 |
|---|---|---|
Dư nợ cho vay bình quân (tỷ đồng) | 4.588,0 | 5.216,9 |
Lợi suất cho vay quy năm | 10,32% | 11,94% |
Vay ngắn hạn bình quân (tỷ đồng) | 8.011,8 | 7.990,8 |
Chi phí vay quy năm | 4,72% | 7,86% |
Chênh lệch | 5,60% | 4,08% |
Lợi suất cho vay tăng 1,62% trong một năm còn chi phí vay tăng 3,14%, nên chênh lệch mỏng đi 1,52%. Thuyết minh ghi các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 10 ngày đến 12 tháng, lãi suất từ 6,3% đến 9,3% mỗi năm.
Phép so sánh này có giới hạn. Lãi vay nuôi cả danh mục tự doanh và tiền gửi kỳ hạn, không chỉ mảng cho vay. Con số cho thấy bề rộng chênh lệch đã co lại, chứ không phải mảng ký quỹ đang lỗ.
Biên chênh lệch mỏng đi cũng làm mỗi đồng dư nợ thêm mang về ít lãi ròng hơn một năm trước.
Vay nợ và đòn bẩy

Rủi ro lớn nhất nằm ở cấu trúc vốn. Vay ngắn hạn cuối quý III/2026 là 7.678,6 tỷ đồng, bằng 268,6% vốn chủ sở hữu, và tổng tài sản gấp 3,96 lần vốn chủ.
Trong bảy mã so sánh, vay trên vốn chủ cao nhất là BSI (211,6%) và trung vị là 164,9%; tài sản trên vốn chủ cao nhất là BSI (3,40 lần) và trung vị 2,69 lần. CTS cao hơn cả hai mã đứng đầu nhóm.
Chi phí tài chính 157,4 tỷ đồng ngốn 38,4% doanh thu quý III, so với 14,5% cùng kỳ. Đây là cách đo trực tiếp nhất việc lãi suất vay và mức vay cùng lúc ăn vào lợi nhuận.
Thuyết minh cho thấy phần đảm bảo của khoản vay mỏng dần: tài sản đảm bảo là 2.460,5 tỷ đồng (hợp đồng tiền gửi 2.030,4 tỷ, trái phiếu 400 tỷ, quyền sử dụng đất 30,1 tỷ), bằng 32,0% dư vay, so với 3.593,3 tỷ đầu năm.
Ngân hàng mẹ không xuất hiện như một chủ nợ lớn. Phần số dư trọng yếu với bên liên quan không ghi khoản vay nào từ VietinBank, và chi phí lãi tiền gửi trả VietinBank cả quý chỉ 61,2 triệu đồng, so với lãi vay 157,0 tỷ.
Rủi ro thứ hai là mức độ phụ thuộc vào thị trường. Tự doanh gộp ba nhóm vẫn chiếm 52,4% doanh thu quý III, và danh mục đã tăng tỷ trọng cổ phiếu niêm yết từ 19,3% lên 37,7%.
Rủi ro thứ ba là chất lượng danh mục. Cổ phiếu chưa niêm yết đang ghi giá trị hợp lý thấp hơn giá gốc 58,2%, và trái phiếu chưa niêm yết đã tăng gấp 8,5 lần trong chín tháng.
Rủi ro thứ tư là pha loãng và cổ tức. Công ty đã dùng 595,5 tỷ lợi nhuận giữ lại để chia cổ phiếu thưởng 28%, nên lãi chưa phân phối còn 121,8 tỷ, chi tiết ở mục cổ tức phía dưới.
Cổ đông và thanh khoản

Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) nắm 75,64% vốn điều lệ theo danh sách cổ đông cập nhật 30/07/2026, nên lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng chỉ khoảng 25%, tương ứng 68,1 triệu cổ phiếu.
Với vốn hoá 5.717,1 tỷ đồng, phần tự do chuyển nhượng trị giá khoảng 1.429 tỷ. Nhà đầu tư nước ngoài nắm 0,47% vốn, trong khi room tối đa là 49%, nên giới hạn sở hữu không phải điểm nghẽn.

Thanh khoản mỏng. Giá trị khớp bình quân 20 phiên gần nhất là 32,2 tỷ đồng mỗi phiên, khoảng 1,52 triệu cổ phiếu, bình quân 60 phiên 31,6 tỷ. Tháng 7/2026 là tháng cao nhất trong 12 tháng, 71 tỷ mỗi phiên, đúng lúc giá chạm 29.400 đồng.
Thanh khoản này đủ cho vị thế nhỏ nhưng khiến giá nhạy với lệnh lớn.
Khối ngoại và tự doanh

Phần trên nói về chính công ty. Phần này nói về người mua bán cổ phiếu CTS trên sàn: khối ngoại và các tổ chức tự doanh. Số liệu là giá trị mua bán theo từng phiên của riêng cổ phiếu CTS, cộng theo quý.
Khối ngoại bán ròng 64,8 tỷ đồng năm 2024 và 38,0 tỷ năm 2025, rồi tiếp tục bán ròng 9,5 tỷ trong 2026 tính tới 30/10. Trong 16 tháng gần nhất có 9 tháng bán ròng và 7 tháng mua ròng.
Quý III/2026 bán ròng 13,8 tỷ đồng, riêng tháng 8 bán ròng 9,6 tỷ là tháng bán lớn nhất của năm. Sang tháng 10, khối ngoại mua ròng 3,4 tỷ.
Giai đoạn | Mua ròng của khối ngoại (tỷ đồng) |
|---|---|
Năm 2024 | −64,8 |
Năm 2025 | −38,0 |
Quý I/2026 | +3,5 |
Quý II/2026 | −2,6 |
Quý III/2026 | −13,8 |
Tháng 10/2026 (tới 30/10) | +3,4 |
Dòng tiền ngoại nhỏ so với thanh khoản của cổ phiếu. Trong 20 phiên gần nhất khối ngoại mua ròng 2,4 tỷ đồng, trong 60 phiên bán ròng 6,5 tỷ với 32 phiên bán ròng, và 12 tháng từ 31/10/2025 bán ròng 26,1 tỷ.

Trong 12 tháng này giá giảm 29,8% từ 29.920 xuống 21.000 đồng. Khối ngoại luỹ kế mua ròng cao nhất 18,1 tỷ ngày 11/11/2025 rồi bán dần tới đáy −33,0 tỷ ngày 09/09/2026, và về −26,1 tỷ ở phiên 30/10.

Khối ngoại nắm 0,47% vốn, từ đỉnh 1,89% ngày 04/08/2025. Room còn lại khoảng 132,1 triệu cổ phiếu, vì vậy áp lực từ hạn mức sở hữu bằng không.
Tự doanh các công ty chứng khoán giao dịch cổ phiếu CTS gần như bằng không. Năm 2026 tính tới phiên 20/10, khối này mua 11,4 tỷ và bán 10,0 tỷ, mua ròng 1,4 tỷ đồng, và từ 2024 tới nay không quý nào có giá trị ròng vượt 3 tỷ.
Cần phân biệt hai khái niệm. Dòng tiền ở đây là các công ty chứng khoán khác mua bán cổ phiếu CTS cho danh mục của họ, không phải danh mục tự doanh của chính CTS, nơi 2.765,8 tỷ đồng tài sản FVTPL đang nằm.
Dữ liệu tự doanh chỉ tới phiên 20/10/2026 nên bài không ngoại suy sang các phiên sau.
So sánh cùng ngành

Nhóm so sánh gồm bảy mã có vốn chủ sở hữu từ 2.650 tới 7.900 tỷ đồng, cùng bậc với CTS (2.859 tỷ) và có báo cáo quý III/2026: ORS, BSI, DSE, FTS, DSC, VDS, AGR. VDS đang lỗ nên trung vị P/E tính trên sáu mã còn lại.
Mười công ty chứng khoán lớn hơn (TCX, SSI, VPX, VIX, VCK, VND, VCI, HCM, SHS, MBS, vốn chủ trên 11.000 tỷ) bị loại vì khác bậc quy mô. TVS bị loại vì dư nợ cho vay chỉ 499 tỷ, BVS vì vốn góp chỉ 722 tỷ, còn APG, VFS, EVS và các mã vốn chủ dưới 2.300 tỷ vì quá nhỏ.
Mã | Vốn hoá (tỷ đồng) | P/E | P/B | ROE 4 quý | Cho vay / vốn chủ | Tự doanh / doanh thu | Môi giới / doanh thu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
CTS | 5.717 | 51,32x | 2,00x | 3,9% | 178,8% | 49,1% | 10,2% |
ORS | 8.829 | 25,42x | 1,12x | 5,9% | 35,4% | 53,7% | 4,4% |
DSE | 8.479 | 58,46x | 1,55x | 3,0% | 117,5% | 32,5% | 25,9% |
BSI | 7.179 | 15,21x | 1,23x | 8,4% | 177,2% | 42,4% | 12,3% |
FTS | 6.822 | 16,98x | 1,53x | 9,2% | 134,9% | 24,0% | 9,7% |
AGR | 2.580 | 19,55x | 0,97x | 5,1% | 121,1% | 33,7% | 13,7% |
DSC | 2.579 | 21,34x | 0,84x | 4,2% | 90,7% | 38,9% | 14,8% |
VDS | 2.516 | Lỗ | 0,91x | −2,8% | 138,1% | 20,3% | 21,7% |
Tứ phân vị trên, 7 mã | 7.829 | 24,40x | 1,38x | 7,1% | 136,5% | 40,6% | 18,2% |
Trung vị, 7 mã | 6.822 | 20,44x | 1,12x | 5,1% | 121,1% | 33,7% | 13,7% |
Tứ phân vị dưới, 7 mã | 2.579 | 17,62x | 0,94x | 3,6% | 104,1% | 28,2% | 11,0% |

CTS có P/B cao nhất nhóm và cao thứ hai trong 30 công ty chứng khoán đã có báo cáo quý III, chỉ sau VCK (2,05 lần). P/B 2,00 lần cao hơn trung vị nhóm 78,7%, còn P/E 51,32 lần cao hơn trung vị 151,0% và chỉ thấp hơn DSE.
Trong khi đó ROE 3,9% thấp hơn trung vị 5,1% và đứng thứ sáu trong tám mã. Lợi nhuận bốn quý giảm 81,8%, sâu thứ hai nhóm sau VDS, trong khi trung vị nhóm chỉ giảm 15,4%.
Đòn bẩy cao nhất nhóm: cho vay trên vốn chủ 178,8% (BSI 177,2%), tài sản trên vốn chủ 3,96 lần. Tăng trưởng dư nợ một năm 3,4% thấp hơn trung vị 12,1%.
Giá đã giảm 18,9% từ đầu năm trong khi ROE bốn quý rơi từ 22,6% cuối 2025 xuống 3,9%. Giá mới điều chỉnh một phần, nên P/B chỉ giảm từ 2,51 lần cuối 2025 xuống 2,00 lần.
Một lưu ý về số liệu. Số cổ phiếu của các mã so sánh lấy từ vốn góp ngày 30/09/2026; mã có cổ phiếu quỹ sẽ cho P/E và P/B thấp hơn thực tế một chút. CTS không có cổ phiếu quỹ và không có lợi ích cổ đông thiểu số.
Định giá cổ phiếu CTS: P/B

Mục trước đặt CTS cạnh bảy mã cùng ngành. Mục này đặt CTS cạnh chính nó. Chuỗi dựng theo từng phiên: giá đóng cửa chia cho giá trị sổ sách của kỳ báo cáo đã công bố trước phiên đó, gồm 3.134 phiên từ 10/04/2014 tới 30/10/2026.
Mốc | P/B (lần) | P/E (lần) |
|---|---|---|
Thấp nhất | 0,42 | 3,85 |
Phân vị 25 | 0,64 | 7,55 |
Trung vị | 0,91 | 10,09 |
Phân vị 75 | 2,05 | 15,91 |
Cao nhất | 3,83 | 164,43 |
Phiên 30/10/2026 | 2,00 | 51,32 |
Giá 21.000 đồng ứng với P/B 2,00 lần, cao hơn trung vị của chính CTS 118,6% và cao hơn 72,9% số phiên từ 2014. P/E 51,32 lần cao hơn 97,2% số phiên, chỉ còn thấp hơn các phiên lợi nhuận bốn quý chạm đáy như tháng 8/2023 (P/E 164,43 lần).
Bẫy của chỉ số này nằm ở mẫu số. P/B cao có thể chấp nhận được khi ROE cao, nhưng hôm nay ROE bốn quý chỉ 3,9%.
So sánh với đáy 52 tuần: ngày 23/03/2026 giá đóng cửa 19.100 đồng, P/B 1,82 lần và ROE bốn quý đã công bố là 22,6%. Giá hôm nay cao hơn 9,9%, P/B 2,00 lần, còn ROE đã giảm gần sáu lần.
Đỉnh P/B 3,83 lần ngày 28/07/2025 đi cùng ROE 10,6%, khi lợi nhuận đang tăng tốc lên 22,6% vào cuối năm. Hôm nay chiều ngược lại: lợi nhuận đã rơi nhưng P/B mới nhích xuống 2,00 lần.
Định giá cổ phiếu CTS: P/B hợp lý
Mọi chỉ số dưới đây tự tính từ báo cáo tài chính, không lấy từ bên thứ ba. Số cổ phiếu là 272,2 triệu, bằng vốn góp 2.722,4 tỷ đồng chia mệnh giá 10.000 đồng. Công ty không có cổ phiếu quỹ và không có lợi ích cổ đông thiểu số.
Trong đó: LNST 4Q là lợi nhuận sau thuế bốn quý gần nhất, VCSH là vốn chủ sở hữu, VCSH bình quân là bình quân vốn chủ đầu và cuối kỳ, N là số cổ phiếu.
- EPS bốn quý: 111,4 tỷ chia 272,2 triệu cổ phiếu, bằng 409 đồng, nên P/E là 51,32 lần
- Giá trị sổ sách: 2.858,8 tỷ chia 272,2 triệu cổ phiếu, bằng 10.501 đồng, nên P/B là 2,00 lần
- ROE bốn quý: 111,4 tỷ chia vốn chủ bình quân 2.833,7 tỷ, bằng 3,9%
- Vốn hoá: 21.000 đồng nhân 272,2 triệu cổ phiếu, khoảng 5.717 tỷ đồng
Giá trị sổ sách 10.501 đồng chỉ cao hơn mệnh giá 5,0%, vì 95,2% vốn chủ là vốn góp, phần lớn mới được nâng lên bằng cổ phiếu thưởng. Giá 21.000 đồng gấp 2,1 lần mệnh giá.
Cách thứ nhất, bội số của nhóm so sánh. Áp P/B trung vị 1,12 lần lên giá trị sổ sách 10.501 đồng ra 11.753 đồng. Áp tứ phân vị dưới 0,94 lần ra 9.887 đồng và tứ phân vị trên 1,38 lần ra 14.454 đồng.
Theo P/E, trung vị 20,44 lần nhân EPS 409 đồng ra 8.366 đồng. Nếu lấy lợi nhuận chín tháng quy năm thì EPS 423 đồng, ra 8.641 đồng; nếu công ty đạt đúng kế hoạch lợi nhuận trước thuế 454 tỷ thì EPS 1.345 đồng, ra 27.498 đồng.
Lợi nhuận kế hoạch tự tính: lợi nhuận trước thuế 454 tỷ nhân tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên trước thuế chín tháng, ra khoảng 366 tỷ đồng, ứng với ROE 12,8% trên vốn chủ bình quân.
Cách thứ hai, P/B hợp lý suy từ ROE. Với công ty tài chính, P/B hợp lý có thể viết bằng (ROE trừ g) chia (r trừ g). Ở đây r là suất sinh lời cổ đông đòi hỏi, còn g là tăng trưởng dài hạn.
Đặt r bằng 12% và g bằng 3%, ROE 3,9% cho P/B 0,10 lần, tức 1.086 đồng. ROE trung vị nhóm 5,1% cho 2.433 đồng, ROE 8% cho 5.834 đồng, ROE đạt kế hoạch 12,8% cho 11.453 đồng và ROE 16% cho 15.168 đồng.
Các cách tiếp cận khác nằm trong bài 12 mô hình định giá chứng khoán.

Cách định giá | Giả định | Kết quả (đồng) | So với giá 21.000 |
|---|---|---|---|
P/E trung vị nhóm, EPS theo kế hoạch 2026 | 20,44 lần × EPS 1.345 | 27.498 | +30,9% |
P/B hợp lý, ROE 16% | r 12%, g 3% | 15.168 | −27,8% |
P/B tứ phân vị trên nhóm | 1,38 lần × BVPS 10.501 | 14.454 | −31,2% |
P/B trung vị nhóm | 1,12 lần × BVPS 10.501 | 11.753 | −44,0% |
P/B hợp lý, ROE đạt kế hoạch 12,8% | r 12%, g 3% | 11.453 | −45,5% |
P/B tứ phân vị dưới nhóm | 0,94 lần × BVPS 10.501 | 9.887 | −52,9% |
P/E trung vị, EPS chín tháng quy năm | 20,44 lần × EPS 423 | 8.641 | −58,9% |
P/E trung vị, EPS bốn quý | 20,44 lần × EPS 409 | 8.366 | −60,2% |
P/B hợp lý, ROE 8% | r 12%, g 3% | 5.834 | −72,2% |
P/B hợp lý, ROE trung vị nhóm 5,1% | r 12%, g 3% | 2.433 | −88,4% |
P/B hợp lý, ROE chín tháng quy năm 4,0% | r 12%, g 3% | 1.199 | −94,3% |
P/B hợp lý, ROE bốn quý 3,9% | r 12%, g 3% | 1.086 | −94,8% |
Chỉ một phép tính ra giá trị cao hơn giá hiện tại, và đó là phép giả định lợi nhuận quý IV đạt mức gấp 55 lần quý III. Mười một phép còn lại thấp hơn giá từ 27,8% tới 94,8%.
Khoảng cách giữa 1.086 và 27.498 đồng rất rộng. Kết quả phụ thuộc gần như hoàn toàn vào ROE nào là bền vững và liệu kế hoạch 454 tỷ có thành hiện thực.

Bảng độ nhạy trên để người đọc tự thay số của mình. Ô giữa (ROE 12%, r 12%) bằng đúng giá trị sổ sách 10.501 đồng. Muốn chạm giá 21.000 đồng cần ROE bền vững khoảng 20% với r từ 11% đến 12%. Nguyên lý chung của các bội số này nằm trong bài định giá chứng khoán.
Thang giá tham chiếu

Làm ngược công thức sẽ biết thị trường đang giả định điều gì. Giá 21.000 đồng ứng với P/B 2,00 lần, và với r 12% và g 3% thì đòi ROE bền vững khoảng 21,0%.
Nếu dùng r 14% và g 6%, ROE ngầm định lên 22,0%. Cả hai đều cao hơn nhiều so với ROE bốn quý 3,9% và ROE 12,8% nếu đạt kế hoạch, nghĩa là giá đang ngầm tin lợi nhuận quay lại mức năm 2025 (ROE 22,6%).
Thang giá trên xếp các mốc tham chiếu theo trục dọc. Giá 21.000 đồng gấp 2,0 lần giá trị sổ sách 10.501 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần 29.920 đồng 29,8% và cao hơn đáy 52 tuần 19.100 đồng 9,9%.
Chỉ có một mốc suy từ định giá nằm trên giá: 27.498 đồng, dựa trên lợi nhuận kế hoạch. Mười một mốc còn lại nằm dưới giá, bảy trong số đó thấp hơn cả giá trị sổ sách 10.501 đồng.
Phân tích kỹ thuật
Giá 21.000 đồng giảm 29,8% từ đỉnh đóng cửa 52 tuần 29.920 đồng ngày 31/10/2025 và 40,1% từ đỉnh chu kỳ 35.080 đồng ngày 17/10/2025, cao hơn đáy 52 tuần 19.100 đồng (23/03/2026) 9,9%. Mọi phân tích dưới đây dùng nến tuần.
So với thị trường chung, trong 250 phiên gần nhất CTS giảm 32,8% còn VN-Index tăng 3,6%. Tính từ đầu năm 2026, CTS giảm 18,9% còn VN-Index giảm 2,4%. Trong 20 phiên, CTS tăng 5,5% so với 0,2%.
Hỗ trợ - Kháng cự

Giá 21.000 đồng nằm giữa vùng hỗ trợ gần 20.120 đến 20.630 đồng và vùng kháng cự gần 22.780 đến 22.950 đồng. Các mốc dưới đây lấy từ nến tuần ba năm, đã điều chỉnh cổ phiếu thưởng.
Vùng giá (đồng) | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
23.550 đến 24.000 | Kháng cự xa | Đỉnh 19/07/2024 và 28/08/2026, đáy 09/01/2026 |
22.780 đến 22.950 | Kháng cự gần | Đỉnh 19/04/2024, 04/10/2024, 21/03/2025 và 10/04/2026 |
20.120 đến 20.630 | Hỗ trợ gần | Đáy 28/06/2024, 13/09/2024 và 01/05/2026 |
18.140 đến 18.470 | Hỗ trợ | Đáy 26/04/2024 và 06/12/2024, đỉnh 15/09/2023 |
Đáy đóng cửa 52 tuần là 19.100 đồng ngày 23/03/2026, nằm giữa hai vùng hỗ trợ. Đỉnh chu kỳ 35.080 đồng (17/10/2025) và đáy chu kỳ 4.120 đồng (15/11/2022) cho thấy biên độ giá của cả chu kỳ năm năm.
Trên nến tuần có một đường xu hướng tăng với ba điểm chạm: đáy tuần 19/01/2024 (15.020 đồng), 27/03/2026 (19.100 đồng) và 31/07/2026 (19.500 đồng). Giá trị đường ở tuần cuối là 19.948 đồng, thấp hơn giá 5,3%. Nếu đóng cửa tuần dưới đường này, hỗ trợ kế tiếp là đáy 19.100 đồng rồi vùng 18.140 đến 18.470 đồng.
Fibonacci

Nhịp giảm từ đỉnh đóng cửa 35.080 đồng (17/10/2025) xuống đáy đóng cửa 19.100 đồng (23/03/2026) là 45,6%. Giá hiện hồi được 11,9% nhịp này. Các mức hồi tính từ đáy lên là 22.871 đồng (23,6%), 25.204 đồng (38,2%), 27.090 đồng (50%), 28.976 đồng (61,8%) và 31.660 đồng (78,6%).
Mức 23,6% là 22.871 đồng, nằm đúng trong vùng kháng cự 22.780 đến 22.950 đồng, nên đó là chỗ nhịp hồi dễ gặp phản ứng nhất. Nhịp hồi tháng 7/2026 chạm 29.400 đồng ở tuần 10/07, sát mức 61,8% (28.976 đồng), rồi giảm lại về 19.500 đồng ở tuần 31/07.
Xu hướng EMA

Giá 21.000 đồng thấp hơn EMA10 tuần (21.460 đồng) 2,1%, EMA20 (22.056 đồng) 4,8%, EMA100 (22.564 đồng) 6,9% và EMA50 (23.003 đồng) 8,7%, nhưng cao hơn EMA200 tuần (19.785 đồng) 6,1%.
EMA20 cắt xuống EMA50 từ tuần 20/03/2026. Bốn đường từ EMA10 tới EMA100 nằm trong dải 21.460 đến 23.003 đồng, trùng với vùng kháng cự 22.780 đến 22.950 đồng và mức Fibonacci 23,6%, nên dải 22.000 đến 23.000 đồng chồng nhiều lớp cản.
EMA200 tuần ở 19.785 đồng là đường dưới cùng, sát đường xu hướng tăng 19.948 đồng và đáy 19.100 đồng. Ba lớp gần nhau này tạo thành vùng nền quanh 19.100 đến 19.950 đồng.
RSI và động lượng

RSI(14) tuần ở 44,6, giảm từ 47,9 tuần trước, thấp hơn nhiều so với đỉnh 65,4 ngày 03/07/2026. Chỉ báo nằm ở vùng trung tính, chưa vào vùng quá bán dưới 30.

MACD tuần ở âm 736, dưới đường tín hiệu âm 615, histogram âm 121. MACD cắt xuống đường tín hiệu từ tuần 11/09/2026 và chưa cắt lên lại.

Stochastic tuần (14, 3, 3) có %K ở 39,1 và %D ở 26,0. %K nằm dưới 20 trong ba tuần liên tiếp từ 02/10 tới 16/10 (15,3, 9,1 và 11,8), rồi cắt lên %D ngày 23/10/2026. Lần quá mua gần nhất là tuần 03/07 đến 10/07/2026 với %K cao nhất 83,7.
Tín hiệu từ ba chỉ báo chưa đồng nhất: Stochastic quay lên từ vùng quá bán, trong khi MACD và RSI vẫn yếu.
Cổ tức và tăng vốn

Công ty chốt quyền ngày 15/06/2026 để phát hành khoảng 59,55 triệu cổ phiếu thưởng, tỷ lệ 28%, từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đến hết 2025. Vốn điều lệ tăng từ 2.126,9 tỷ lên 2.722,4 tỷ đồng, và số cổ phiếu lưu hành từ 212,7 lên 272,2 triệu.
Theo bảng biến động vốn chủ, đợt chia này lấy đi 595,5 tỷ đồng. Lợi nhuận chưa phân phối giảm từ 730,2 tỷ cuối quý I xuống 116,8 tỷ cuối quý II và còn 121,8 tỷ cuối quý III, trong đó phần đã thực hiện 157,4 tỷ và phần chưa thực hiện −35,6 tỷ.
Theo báo chí, kế hoạch năm 2026 có tỷ lệ cổ tức 9%, một bài ghi là cổ tức tiền mặt và bài khác không nêu hình thức. Nếu trả bằng tiền trên vốn 2.722,4 tỷ thì cần khoảng 245,0 tỷ đồng, gấp 2,0 lần lãi chưa phân phối hiện có và gấp 1,6 lần phần đã thực hiện.
Con số này chỉ mang tính tính toán từ bảng cân đối, vì lợi nhuận quý IV sẽ cộng thêm vào. Nhưng nó cho thấy dư địa cổ tức tiền mặt đã mỏng hơn nhiều so với một năm trước.
Lịch sự kiện cần theo dõi
Chỉ tiêu | Mốc hiện tại (Q3/2026) | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
Lợi nhuận trước thuế quý IV | 6,3 tỷ đồng (Q3) | Cần khoảng 347,0 tỷ để đủ kế hoạch 454 tỷ, gấp 54,8 lần quý III |
Lãi cho vay ÷ lãi vay | 0,99 lần | Dưới 1,0 lần ba quý liên tiếp từ quý I; cho biết chênh lệch có mở lại hay không |
Dư nợ các khoản cho vay | 5.112,1 tỷ đồng | Giảm hai quý liên tiếp, thước đo trực tiếp của mảng sinh lãi chính |
Thị phần môi giới HOSE | Ngoài top 10, dưới 2,81% | Công bố đầu tháng 1/2027, cho biết có vào lại top 10 hay không |
Tự doanh FVTPL ròng | −44,8 tỷ đồng | Danh mục cổ phiếu niêm yết 1.041,7 tỷ đồng theo sát thị trường chung |
Đầu tư giữ đến đáo hạn (tiền gửi kỳ hạn) | 1.930,4 tỷ đồng | Giảm 1.632,2 tỷ từ đầu năm; cùng là tài sản đảm bảo cho khoản vay |
Vay ngắn hạn ÷ vốn chủ | 268,6% | Cao nhất nhóm, nhạy trực tiếp với mặt bằng lãi suất |
Lãi chưa phân phối và cổ tức 9% | 121,8 tỷ đồng | Đệm cổ tức tiền mặt mỏng so với 245,0 tỷ nếu trả 9% bằng tiền |
Kết luận
CTS báo quý lãi thấp nhất 15 quý. Doanh thu giảm 37,2% nhưng lợi nhuận trước thuế mất 98,1%, và tự doanh FVTPL ròng một mình chiếm 296,3 tỷ trong 331,5 tỷ đồng bị mất, khi danh mục chuyển nặng sang cổ phiếu niêm yết.
Lãi vay 157,0 tỷ đã vượt lãi cho vay 155,7 tỷ, vay nợ bằng 268,6% vốn chủ và thị phần môi giới HOSE nằm ngoài top 10. Quý IV cần gấp 54,8 lần quý III mới đủ kế hoạch lợi nhuận năm.
Về giá, thị trường đang trả cho CTS mức P/B cao hơn trung vị nhóm 78,7%, trong khi ROE thấp hơn trung vị. Giá 21.000 đồng ngầm định ROE bền vững khoảng 21,0%, so với 3,9% thực tế và 12,8% nếu đạt kế hoạch; 11 trong 12 phép định giá thấp hơn giá.
Phần chênh đó là mức tin vào việc lợi nhuận quay lại mức năm 2025, trong khi giá mới giảm 18,9% từ đầu năm còn ROE đã giảm gần sáu lần.
Về đồ thị, giá nằm dưới EMA10 tới EMA100 tuần và trên EMA200 tuần 19.785 đồng. Vùng nền 19.100 đến 19.950 đồng có đáy 52 tuần, EMA200 và đường xu hướng tăng chồng lên nhau; phía trên, 22.780 đến 22.950 đồng trùng Fibonacci 23,6% là kháng cự gần nhất.
Stochastic tuần đã quay lên từ vùng quá bán nhưng MACD và RSI vẫn yếu, nên tín hiệu động lượng chưa đồng nhất.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.