Bài 17/17 · Cơ cấu danh mụcHọc thử miễn phí
Ngành chu kỳ và ngành tăng trưởng: cơ cấu danh mục như thế nào
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 07/11/2026
Ngành chu kỳ và ngành tăng trưởng khác nhau ở cách lợi nhuận biến động theo thời gian. Ngành chu kỳ lên xuống theo nhịp kinh tế hoặc giá hàng hoá, còn ngành tăng trưởng tăng đều qua nhiều năm. Bài này nằm trong khoá Xây dựng danh mục đầu tư, mô-đun Cơ cấu danh mục. Thay vì dựa vào quan niệm chung, bài phân loại bằng chính dữ liệu lợi nhuận.
Dữ liệu đến 02/10/2026, lấy từ báo cáo tài chính năm 2019 đến 2025 của 665 doanh nghiệp trên HOSE và HNX có đủ 7 năm. Phân ngành theo cơ sở dữ liệu của HODL.VN. Cách phân loại dưới đây là cách làm của bài, không phải chuẩn chính thức.
Chu kỳ, tăng trưởng, phòng thủ
Ngành chu kỳ có lợi nhuận phụ thuộc mạnh vào chu kỳ kinh tế hoặc giá nguyên liệu. Khi nhu cầu tốt, lợi nhuận tăng vọt. Khi nhu cầu yếu, lợi nhuận giảm sâu, thậm chí lỗ. Ví dụ thường gặp là vật liệu xây dựng, hoá chất, vận tải, chứng khoán.
Ngành tăng trưởng có lợi nhuận tăng đều và nhanh hơn nền kinh tế, ít khi giảm. Ngành phòng thủ có lợi nhuận ổn định nhưng tăng chậm, vì nhu cầu ít đổi theo chu kỳ. Ví dụ thường gặp là thực phẩm, y tế, tiện ích.
Quan niệm chung đôi khi không khớp số liệu. Ngân hàng thường được xếp vào ngành chu kỳ vì gắn với tín dụng. Nhưng lợi nhuận của ngân hàng trong 7 năm gần đây tăng đều và chưa có năm giảm. Vì vậy cần đo bằng số liệu thay vì gán nhãn theo thói quen.
Ngành chu kỳ tăng trưởng 2019-2025

Với mỗi ngành, ta cộng lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp có đủ 7 năm, chỉ xét ngành có từ 8 mã trở lên. Rồi đo ba thứ. Một là tốc độ tăng lợi nhuận bình quân mỗi năm từ 2019 đến 2025. Hai là số lần lợi nhuận giảm trong 6 lần so sánh năm sau với năm trước. Ba là mức giảm sâu nhất.
Quy tắc phân nhóm của bài như sau. Nhóm tăng trưởng đều là ngành chưa có năm giảm nào. Nhóm chu kỳ rõ là ngành có ít nhất một năm lợi nhuận giảm từ 50% trở lên, hoặc có năm lỗ gộp. Các ngành còn lại là nhóm trung gian.
Nhóm | Ngành | Tăng bình quân mỗi năm | Số lần giảm | Mức giảm sâu nhất |
|---|---|---|---|---|
Tăng trưởng đều | Công nghệ và thông tin | 19,6% | 0 | không giảm |
Tăng trưởng đều | Ngân hàng | 20,1% | 0 | không giảm |
Chu kỳ rõ | Vật liệu xây dựng | 8,7% | 2 | âm 75,2% năm 2022 |
Chu kỳ rõ | Chế biến thủy sản | 0,3% | 2 | âm 61,4% năm 2023 |
Chu kỳ rõ | SX hàng gia dụng | 15,6% | 1 | âm 59,6% năm 2023 |
Chu kỳ rõ | Bán buôn | 5,7% | 2 | âm 57,9% năm 2022 |
Chu kỳ rõ | Chứng khoán | 33,9% | 1 | âm 51,6% năm 2022 |
Chu kỳ rõ | SX nhựa và hóa chất | 12,5% | 1 | âm 50,5% năm 2023 |
Chu kỳ rõ | Vận tải và kho bãi | 9,2% | 2 | lỗ gộp 3 năm 2020 đến 2022 |
Chu kỳ rõ | SX phụ trợ | 7,1% | 3 | có năm lỗ gộp |
Chu kỳ rõ | Nông, lâm, ngư | 18,1% | 2 | có năm lỗ gộp |
Chín ngành rơi vào nhóm chu kỳ rõ. Đáng chú ý là chứng khoán. Ngành này có tốc độ tăng cao nhất bảng, 33,9% mỗi năm, nhưng cũng có năm lợi nhuận giảm hơn một nửa. Tăng nhanh về dài hạn và chu kỳ mạnh có thể đi cùng nhau.
Chín ngành còn lại gồm bán lẻ, bảo hiểm, bất động sản, chăm sóc sức khỏe, khai khoáng, thiết bị điện, thực phẩm và đồ uống, tiện ích, xây dựng. Các ngành này có lợi nhuận giảm vài lần nhưng nhẹ hơn. Chăm sóc sức khỏe giảm 3 lần nhưng sâu nhất chỉ 5,6%. Thực phẩm và đồ uống giảm 3 lần, sâu nhất 18,7%. Tiện ích giảm 3 lần, sâu nhất 27,8%. Bất động sản giảm 4 lần với mức giảm sâu nhất chỉ 6,3%. Tốc độ tăng của ba ngành phòng thủ chăm sóc sức khỏe, thực phẩm, tiện ích chỉ từ 3,2% đến 4,5% mỗi năm.
Nhịp lợi nhuận của từng nhóm
Gộp lợi nhuận theo nhóm cho thấy khác biệt rõ hơn. Lợi nhuận gộp của nhóm tăng trưởng đều tăng dương cả 6 năm, với mức thay đổi từ 4,2% đến 34,6% mỗi năm. Tổng lợi nhuận của hai ngành đi từ 97.081 tỷ đồng năm 2019 lên 290.479 tỷ đồng năm 2025, tăng bình quân 20,0% mỗi năm.
Nhóm chu kỳ rõ thì đổi chiều liên tục. Lợi nhuận gộp giảm 34,2% năm 2020, tăng vọt 171,0% năm 2021, giảm 29,5% năm 2022, giảm 15,2% năm 2023, rồi tăng 38,4% năm 2024 và 43,1% năm 2025. Tổng lợi nhuận đi từ 53.388 tỷ đồng lên 112.580 tỷ đồng, tăng bình quân 13,2% mỗi năm. Mức bình quân che đi hành trình nhiều biến động.
Giá phản ứng theo chu kỳ

Lợi nhuận biến động thì giá cũng biến động. Bảng dưới là trung bình cộng mức tăng giảm trung vị của các ngành trong mỗi nhóm, tính bằng giá đã điều chỉnh đầy đủ.
Nhóm | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
|---|---|---|---|---|
Tăng trưởng đều (2 ngành) | âm 22,5% | 13,3% | 19,4% | 14,7% |
Chu kỳ rõ (9 ngành) | âm 37,8% | 23,1% | 5,8% | 3,5% |
Trung gian (9 ngành) | âm 25,9% | 15,8% | 9,3% | 4,4% |
Năm 2022, nhóm chu kỳ mất 37,8%, sâu nhất ba nhóm. Năm 2023, nhóm này hồi mạnh nhất với 23,1%. Từ 2024, nhóm tăng trưởng đều bứt lên, còn nhóm chu kỳ chậm lại. Cổ phiếu chu kỳ thường giảm sâu nhất lúc xấu và hồi nhanh nhất lúc tốt, nhưng khó nắm đúng thời điểm.
Ngoài ra, nhóm tăng trưởng đều cũng không miễn nhiễm. Ngân hàng giảm trung vị 35,4% năm 2022 dù lợi nhuận cả ngành vẫn tăng khoảng 35,2% trong năm đó. Giá phản ứng với kỳ vọng và dòng tiền, không chỉ với lợi nhuận quá khứ.
Cơ cấu ngành chu kỳ tăng trưởng
Không có tỷ lệ đúng. Có ba cách nghĩ để chọn.
Cách thứ nhất là theo khả năng chịu sụt giảm. Nhóm chu kỳ làm danh mục dao động mạnh hơn. Nếu bạn khó chịu khi tài khoản giảm hơn 30%, hãy giữ phần chu kỳ nhỏ.
Cách thứ hai là theo kỳ vọng nhìn về trước, nhưng cẩn thận. Người ta thường mua nhóm chu kỳ khi lợi nhuận đang ở mức cao, đúng lúc giá cổ phiếu đã phản ánh. Nhìn bảng, bạn thấy nhóm chu kỳ có lúc giảm lợi nhuận mà giá hồi trước, như năm 2023.
Cách thứ ba là theo vai trò. Nhóm tăng trưởng đều làm lõi, nhóm chu kỳ làm phần vệ tinh với tỷ trọng nhỏ có giới hạn. Đây là cách phân vai, không phải khuyến nghị tỷ lệ.
Kết quả 6 năm cũng cho thấy lợi nhuận chỉ là một nửa câu chuyện. Bạn nên xem cả định giá, nợ và chất lượng lợi nhuận. Bài chiến lược đầu tư phòng thủ và bài cổ phiếu phòng thủ nói thêm về nhóm ổn định. Bài học định giá chứng khoán là gì giúp bạn đọc lợi nhuận kỹ hơn.
Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư. Kết quả quá khứ không bảo đảm kết quả tương lai.