Bài 1/1 · Chiến lược đầu tưHọc thử miễn phí

Cổ phiếu trả cổ tức: tính lợi suất hiện tại theo giá mua

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 02/10/2026

Cổ phiếu trả cổ tức thường được giới thiệu bằng một con số phần trăm, ví dụ "cổ tức 20%". Người mới hay hiểu nhầm đó là mức lãi trên số tiền mình bỏ ra. Thực ra ở Việt Nam, con số ấy tính trên mệnh giá 10.000 đồng, không tính trên giá bạn mua.

Bài này chỉ làm một việc: đổi con số trên thông báo cổ tức thành lợi suất hiện tại, tức số phần trăm thật sự bạn nhận theo giá mua. Ví dụ dùng số liệu hai doanh nghiệp VHC và GAS, giá đóng cửa phiên 02/10/2026, dữ liệu đến 02/10/2026.

Cổ phiếu trả cổ tức ghi mệnh giá

Khoản 2 Điều 13 Luật Chứng khoán 54/2019/QH14 quy định mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng là 10.000 đồng. Khi công ty công bố "cổ tức tiền mặt 20%", nghĩa là mỗi cổ phiếu nhận 20% của 10.000 đồng, tức 2.000 đồng. Cách viết này có từ thời giá cổ phiếu còn gần mệnh giá. Ngày nay giá thị trường thường cao hơn mệnh giá nhiều lần.

Vì vậy cùng mức cổ tức 2.000 đồng, người mua ở giá 50.000 đồng chỉ nhận 4% trên vốn. Người mua ở giá 20.000 đồng nhận 10%. Con số 20% trên thông báo không đổi, nhưng lợi suất của mỗi người khác nhau. Cách quy đổi cụ thể có trong bài học cách tính cổ tức tiền mặt và cổ phiếu.

Công thức lợi suất hiện tại

Lợi suất hiện tại bằng cổ tức tiền mặt một năm chia cho giá cổ phiếu. Nếu dùng giá hôm nay, ta có lợi suất của người mua mới. Nếu dùng giá vốn của bạn, ta có lợi suất trên giá vốn.

Lợi suất hiện tại=Cổ tức tiền mặt mỗi cổ phiếu trong 12 thángGiá cổ phiếu\text{Lợi suất hiện tại} = \dfrac{\text{Cổ tức tiền mặt mỗi cổ phiếu trong 12 tháng}}{\text{Giá cổ phiếu}}

Có hai cách lấy tử số. Cách thứ nhất là cộng các lần trả tiền trong 12 tháng gần nhất, gọi là lợi suất quá khứ. Cách thứ hai là dùng mức cổ tức công ty đã công bố cho năm tới, gọi là lợi suất dự kiến. Cách đầu dựa trên tiền đã trả nên chắc chắn hơn. Cách sau sát với tương lai hơn nhưng phụ thuộc kế hoạch có thành hiện thực hay không.

Mẫu số phải là giá thị trường, không phải mệnh giá. Đây là chỗ khác nhau giữa con số trên thông báo và con số nhà đầu tư cần.

Hai lưu ý nhỏ khi cộng tử số. Nhiều công ty tạm ứng cổ tức hai, ba đợt trong năm, nên phải cộng đủ các đợt trong 12 tháng. Cổ tức bằng cổ phiếu thì không đưa vào tử số. Nó làm tăng số cổ phiếu bạn nắm, nhưng giá tham chiếu được điều chỉnh giảm tương ứng, nên không phải tiền về tài khoản.

Giá mua quyết định lợi suất cổ tức

Lợi suất cổ phiếu trả cổ tức theo giá mua với cổ tức 2.000 đồng

Giả sử một công ty trả đều 2.000 đồng mỗi cổ phiếu mỗi năm. Bảng dưới cho thấy lợi suất thay đổi theo giá mua.

Giá mua

Cổ tức mỗi năm

Lợi suất hiện tại

40.000 đồng

2.000 đồng

5,0%

50.000 đồng

2.000 đồng

4,0%

80.000 đồng

2.000 đồng

2,5%

Giá càng cao, lợi suất càng thấp, dù công ty trả đúng một mức tiền. Điều này giống trái phiếu: giá và lợi suất đi ngược chiều. Người đầu tư cổ tức vì thế quan tâm giá mua không kém gì mức cổ tức.

Hai ví dụ thật: VHC và GAS

So sánh hai cổ phiếu trả cổ tức VHC và GAS

Bài lấy dòng "cổ tức đã trả" trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất năm 2025. Con số chia cho số cổ phiếu cuối năm ra cổ tức bình quân mỗi cổ phiếu. Số cổ phiếu tính bằng vốn góp chia mệnh giá.

Cổ tức mỗi cổ phiếu=Cổ tức đã trảNN=Vốn góp10.000\text{Cổ tức mỗi cổ phiếu} = \dfrac{\text{Cổ tức đã trả}}{N} \qquad N = \dfrac{\text{Vốn góp}}{10.000}

Trong đó: N là số cổ phiếu, 10.000 đồng là mệnh giá.

VHC trả 449 tỷ đồng trong năm 2025, trên khoảng 224,5 triệu cổ phiếu. Mỗi cổ phiếu nhận khoảng 2.000 đồng, tương đương 20% mệnh giá. Giá đóng cửa ngày 02/10/2026 là 50.700 đồng. Lợi suất hiện tại khoảng 3,9%.

GAS trả 5.012 tỷ đồng trong năm 2025, trên khoảng 2.412,9 triệu cổ phiếu. Mỗi cổ phiếu nhận khoảng 2.077 đồng, tương đương khoảng 20,8% mệnh giá. Giá đóng cửa ngày 02/10/2026 là 78.800 đồng. Lợi suất hiện tại khoảng 2,6%.

Hai cổ phiếu có tỷ lệ trên mệnh giá gần bằng nhau. Nhưng vì giá GAS cao hơn, người mua GAS hôm nay nhận lợi suất thấp hơn người mua VHC. Lưu ý dòng tiền cổ tức hợp nhất có thể gồm phần công ty con trả cho cổ đông thiểu số. Đây là ước tính, không thay cho mức cổ tức trong nghị quyết của từng công ty.

Lợi suất trên giá vốn

Người giữ cổ phiếu lâu năm thường tính lợi suất trên giá vốn. Ví dụ bạn mua một cổ phiếu ở giá 20.000 đồng, nay công ty trả 2.000 đồng. Lợi suất trên giá vốn là 10%. Con số này đúng với khoản tiền bạn bỏ ra năm xưa.

Nhưng khi quyết định giữ hay bán, giá vốn không còn quan trọng. Nếu cổ phiếu nay giá 50.000 đồng, việc tiếp tục giữ tương đương bỏ 50.000 đồng để nhận 2.000 đồng mỗi năm. Lợi suất thực của quyết định đó là 4%. Hãy so 4% đó với các lựa chọn khác, không so 10%.

Soát cổ phiếu trả cổ tức

Lợi suất hiện tại chỉ là một lát cắt. Nó cao có thể vì công ty trả nhiều. Nó cũng có thể cao vì giá vừa giảm mạnh, do thị trường nghi ngờ mức cổ tức sẽ không giữ được.

Trước khi chọn cổ phiếu trả cổ tức theo lợi suất, hãy soát ba điều. Một là tiền cổ tức có nhỏ hơn lợi nhuận sau thuế hay không. Hai là công ty đã trả đều trong nhiều năm chưa. Ba là có khoản trả bất thường nào, ví dụ một lần chia lớn từ lợi nhuận tích lũy, làm lợi suất năm gần nhất cao hơn bình thường.

Cũng nhớ rằng cổ tức chỉ được trả khi công ty đủ điều kiện theo Điều 135 Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14. Một trong các điều kiện là sau khi trả, công ty vẫn trả đủ nợ đến hạn. Cổ tức không phải khoản lãi cam kết như tiền gửi. Phần nền về cổ tức có trong bài học cổ tức là gì, và cách đọc từng đợt chia có trong bài học đọc hiểu thông báo chi trả cổ tức.

Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.

Watchlist

Đang tải…