Phân tích cổ phiếu GMD Quý 4/2026: Doanh thu tăng 41,6%, lãi gộp chỉ tăng 5,4%
Nội dung bài15 phần
- Định giá cổ phiếu GMD: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Lãi thoái vốn một lần
- Gemalink và công ty liên doanh
- Dòng tiền và nợ vay
- Cổ phiếu thưởng 50%
- Cổ đông và thanh khoản
- Khối ngoại và tự doanh
- So sánh cùng ngành
- Định giá theo P/E, P/B và DCF
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Cổ tức
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
Định giá cổ phiếu GMD Quý 4/2026 bắt đầu từ quý III/2026, quý đầu tiên Gemadept hợp nhất mảng tàu biển và logistics. Doanh thu thuần tăng 41,6% lên 2.209,8 tỷ đồng nhưng lãi gộp chỉ tăng 5,4% lên 702,0 tỷ, nên biên lãi gộp tụt từ 42,7% cùng kỳ (52,5% quý II) xuống 31,8%.
Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ quý III là 443,9 tỷ đồng, tăng 40,8% so với cùng kỳ nhưng giảm 60,5% so với quý II (1.124,2 tỷ), vì quý II có 599,8 tỷ đồng lãi chuyển nhượng khoản đầu tư. Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 52.700 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần 8,3% và cao hơn đáy 41,7%.
Điểm chính
- Từ 30/06/2026 Gemadept Shipping Holdings và Mekong Logistics thành công ty con: doanh thu logistics và khác quý III lên 819,5 tỷ đồng (187,2 tỷ cùng kỳ), nhưng lãi gộp mảng khai thác cảng giảm 31,3% (588,6 còn 404,1 tỷ) khi doanh thu mảng này chỉ tăng 1,2%; chi phí bán hàng và quản lý tăng 21,1% lên 386,4 tỷ.
- Lãi chuyển nhượng khoản đầu tư dài hạn 611,9 tỷ đồng, bằng 20,6% lợi nhuận trước thuế chín tháng, nằm trong EPS bốn quý 4.150 đồng; trừ nguyên số trước thuế này thì P/E từ 12,70 lên 16,43 lần.
- Lãi liên doanh, liên kết chín tháng 1.043,4 tỷ đồng (35,0% lợi nhuận trước thuế), trong đó 813,2 tỷ là phần tăng giá trị ghi sổ vốn góp vào Gemalink (từ 2.954,0 lên 3.767,2 tỷ).
- Tiền và đầu tư ngắn hạn 5.331 tỷ đồng so với vay 2.636 tỷ (dư ròng 2.695 tỷ); dòng tiền kinh doanh chín tháng 1.522 tỷ, sau chi mua sắm tài sản cố định 951 tỷ còn 571 tỷ.
- Giá 52.700 đồng ứng với P/E 12,70 lần và P/B 2,41 lần, cao hơn trung vị nhóm (7,21 và 1,48) dù ROE 20,2% thấp hơn trung vị 23,6%; 11 trong 12 phép định giá thấp hơn giá, và khối ngoại bán ròng 917 tỷ đồng trong 12 tháng.

Định giá cổ phiếu GMD: quy mô
Tập đoàn Gemadept (GMD) niêm yết trên HOSE với 649,34 triệu cổ phiếu sau đợt thưởng 50%, vốn hoá theo giá 52.700 đồng là 34.220 tỷ đồng. Theo thuyết minh BCTC, trọng điểm gồm cảng Nam Đình Vũ, Nam Hải ICD, Dung Quất, Phước Long, Bình Dương và cảng nước sâu Gemalink Cái Mép; khai thác cảng chiếm 77,9% doanh thu chín tháng, logistics và khác chiếm 22,1%.
Doanh thu quý III là 2.209,8 tỷ đồng, tăng 25,4% so với quý II và 41,6% so với cùng kỳ. Chín tháng doanh thu 5.423,8 tỷ, tăng 25,2%, bằng 83,4% kế hoạch cả năm 6.500 tỷ; lợi nhuận trước thuế chín tháng 2.977,4 tỷ đã bằng 106,3% chỉ tiêu 2.800 tỷ mà ĐHĐCĐ ngày 06/05/2026 thông qua, phần lớn nhờ khoản chuyển nhượng quý II.

Lợi nhuận mẹ tăng từ 517 tỷ đồng năm 2019 lên 2.251 tỷ năm 2023, lùi về 1.455 tỷ năm 2024 rồi lên 1.756 tỷ năm 2025; chín tháng 2026 đã đạt 2.102 tỷ, bằng 119,7% cả năm 2025. EPS bốn quý hiện là 4.150 đồng (đã quy đổi sau thưởng) và ROE bốn quý là 20,2%, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ 14.193 tỷ cuối quý III.
Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Biên lãi gộp quý III là 31,8%, so với 52,5% quý II, 43,8% quý I và 42,7% cùng kỳ. Lãi gộp giảm 24,1% so với quý II (từ 924,3 tỷ xuống 702,0 tỷ) và chỉ tăng 5,4% so với quý III/2025 (666,2 tỷ). Biên hoạt động, tính bằng lãi gộp trừ chi phí bán hàng và quản lý rồi chia doanh thu, còn 14,3% so với 22,2% cùng kỳ và 32,3% quý II.
Theo chi phí theo yếu tố, chín tháng tổng chi phí tăng 33,3% (từ 3.114,6 lên 4.152,7 tỷ), nhanh hơn doanh thu 25,2%: chi phí dịch vụ mua ngoài tăng 39,1% lên 2.318,7 tỷ, nguyên vật liệu tăng 71,2% lên 435,7 tỷ, nhân công chỉ tăng 3,9%. Chi phí hoa hồng môi giới sáu tháng đầu năm là 297,8 tỷ, gần gấp đôi 155,8 tỷ cùng kỳ.

Cầu nối từ quý II sang quý III tách mức giảm 680,2 tỷ đồng của lợi nhuận mẹ (từ 1.124,2 tỷ xuống 443,9 tỷ). Thu nhập tài chính trừ 602,2 tỷ (từ 689,6 tỷ xuống 87,3 tỷ), lãi gộp trừ 222,3 tỷ, chi phí quản lý trừ 79,5 tỷ và lãi liên doanh trừ 34,2 tỷ. Thuế cộng 138,8 tỷ (thuế phải nộp giảm từ 262,6 xuống 123,7 tỷ), lợi nhuận khác cộng 55,7 tỷ, chi phí bán hàng cộng 48,9 tỷ và phần cổ đông thiểu số cộng 21,8 tỷ.

So với cùng kỳ, lợi nhuận mẹ tăng 128,7 tỷ đồng (từ 315,2 tỷ lên 443,9 tỷ) nhưng lãi gộp chỉ cộng 35,7 tỷ và chi phí bán hàng, quản lý trừ 67,3 tỷ. Lợi nhuận khác cộng 116,9 tỷ vì quý III/2025 lỗ 107,4 tỷ còn quý III/2026 lãi 9,6 tỷ, thu nhập tài chính cộng 37,9 tỷ, lãi liên doanh cộng 51,8 tỷ; thuế trừ 44,7 tỷ và phần thiểu số trừ 25,2 tỷ. Giải trình của công ty chỉ nêu hai nguồn là lãi gộp (gần 36 tỷ) và lãi liên doanh cộng thu nhập tài chính (gần 90 tỷ).

Theo thuyết minh doanh thu và giá vốn theo hai mảng, trừ luỹ kế sáu tháng soát xét khỏi chín tháng, mảng khai thác cảng quý III có doanh thu 1.390,3 tỷ đồng (tăng 1,2%) nhưng giá vốn tăng 25,7% lên 986,1 tỷ, nên lãi gộp 404,1 tỷ, biên 29,1% so với 42,9%. Mảng logistics và khác doanh thu 819,5 tỷ (gấp 4,4 lần) với lãi gộp 297,8 tỷ, biên 36,3%, và lúc này chiếm 37,1% doanh thu và 42,4% lãi gộp quý III.
Thuyết minh không giải thích vì sao biên mảng cảng giảm từ 42,9% xuống 29,1% trong một quý, và số liệu có được không tách doanh thu của hai công ty mới hợp nhất. Bài vì vậy không gán mức giảm này cho một nguyên nhân cụ thể. Chín tháng, lãi gộp mảng cảng là 1.768,5 tỷ (biên 41,9% so với 44,8%) và mảng logistics là 494,3 tỷ (biên 41,3% so với 46,6%).

Ba khoản ngoài lãi gộp đều đáng chú ý. Lãi liên doanh, liên kết quý III là 348,8 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ và bằng 49,1% lợi nhuận trước thuế (710,0 tỷ). Thu nhập tài chính 87,3 tỷ đã về mức thường lệ sau đỉnh 689,6 tỷ quý II, còn chi phí lãi vay 51,4 tỷ gấp 2,2 lần cùng kỳ (23,8 tỷ) và chín tháng 132,7 tỷ so với 73,6 tỷ.
Lãi thoái vốn một lần

Thuyết minh ghi lãi chuyển nhượng các khoản đầu tư tài chính dài hạn 611,9 tỷ đồng trong chín tháng, trong đó 599,8 tỷ nằm trong sáu tháng đầu năm và 12,1 tỷ thêm vào quý III. Khoản này bằng 20,6% lợi nhuận trước thuế chín tháng (2.977,4 tỷ) và tương đương 22,7% lợi nhuận mẹ bốn quý nếu tính nguyên số trước thuế, nên EPS bốn quý 4.150 đồng và P/E 12,70 lần đều gồm nó.
Theo thuyết minh, trong kỳ công ty chuyển nhượng toàn bộ vốn tại CJ Logistics Holdings Việt Nam (tên cũ CJ Gemadept Logistics Holdings), CTCP Liên hợp Thực phẩm và CTCP Quản lý Quỹ Trí Tuệ Việt Nam, đồng thời nhận chuyển nhượng và nắm quyền kiểm soát Gemadept Shipping Holdings và Mekong Logistics. Dòng tiền ghi 923,5 tỷ đồng thu từ bán khoản đầu tư vào doanh nghiệp khác trong quý II.
Nếu trừ nguyên 611,9 tỷ khỏi lợi nhuận mẹ bốn quý (2.694,5 tỷ), lợi nhuận còn 2.082,6 tỷ, EPS 3.207 đồng và P/E tăng từ 12,70 lên 16,43 lần. Phép trừ này bỏ qua thuế và phần cổ đông thiểu số của khoản lãi, thông tin mà thuyết minh không tách, nên P/E thực sau điều chỉnh thấp hơn 16,43 lần ở mức chưa tính được.
Gemalink và công ty liên doanh

Lãi từ công ty liên doanh, liên kết chín tháng là 1.043,4 tỷ đồng, tăng 36,0% so với 767,0 tỷ cùng kỳ và bằng 35,0% lợi nhuận trước thuế (44,1% nếu bỏ lãi chuyển nhượng). Khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết trên bảng cân đối là 5.073,1 tỷ đồng, bằng 22,7% tổng tài sản.
Trong đó vốn góp vào Cảng Cái Mép Gemadept – Terminal Link (Gemalink), phân loại cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, có giá trị ghi sổ 3.767,2 tỷ đồng, tăng 813,2 tỷ (27,5%) từ 2.954,0 tỷ đầu năm: 531,6 tỷ trong sáu tháng đầu và 281,6 tỷ quý III. Số này bằng 77,9% lãi liên doanh chín tháng và 74,3% giá trị khoản đầu tư liên doanh, liên kết, nên lợi nhuận của GMD phụ thuộc rất nhiều vào một cảng.
Mục giao dịch trọng yếu với Gemalink trong thuyết minh chỉ có doanh thu dịch vụ và chi hộ, không có cổ tức hay lợi nhuận được chia; cổ tức nhận trong chín tháng đến từ Dịch vụ Hàng hoá Sài Gòn (92,5 tỷ) và Thương cảng Vũng Tàu (1,4 tỷ). Dòng tiền thu lãi, cổ tức và lợi nhuận được chia chín tháng là 623,3 tỷ, gồm cả lãi tiền gửi (219,0 tỷ), nên không tách được riêng phần cổ tức. Theo BCTC bán niên, công ty thế chấp phần vốn góp tại Gemalink để bảo đảm khoản vay của Gemalink tại ngân hàng cho dự án giai đoạn 1.
Theo ĐHĐCĐ ngày 06/05/2026, Gemalink giai đoạn 2 bắt đầu đầu tư từ 17/04/2026 và dự kiến vận hành từ quý IV/2027 với công suất trên 3 triệu TEU một năm. Phần vốn cho giai đoạn này nằm ở Gemalink, chưa hiện trên số hợp nhất của GMD, nhưng quyết định phần lãi nào được chia về công ty mẹ.
Dòng tiền và nợ vay

Dòng tiền kinh doanh chín tháng 1.522 tỷ đồng, giảm 5,4% so với 1.609 tỷ cùng kỳ trong khi lợi nhuận mẹ tăng 80,7%. Chi mua sắm tài sản cố định chín tháng là 951 tỷ (so với 1.372 tỷ), nên dòng tiền kinh doanh trừ chi mua sắm dương 571 tỷ, so với dương 237 tỷ cùng kỳ; riêng quý III dòng tiền này âm 162 tỷ (496,8 tỷ trừ 658,5 tỷ).

Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn cuối quý III là 5.331 tỷ đồng, tăng 22,2% so với 4.361 tỷ cuối 2025, trong đó đầu tư tài chính ngắn hạn tăng từ 2.739 lên 4.192 tỷ. Vay là 2.636 tỷ (vay ngắn hạn 372 tỷ, dài hạn 2.264 tỷ), nên tiền dư ròng 2.695 tỷ và vay chỉ bằng 0,19 lần vốn chủ cổ đông mẹ.
Hệ số trả lãi quý III, tính bằng lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay chia cho lãi vay, là 14,8 lần. Lợi ích cổ đông không kiểm soát là 2.115 tỷ, bằng 13,0% vốn chủ, tăng 18,9% từ 1.778 tỷ đầu năm; phần thiểu số bằng 24,3% lợi nhuận hợp nhất quý III (142,4 trên 586,3 tỷ).
Cổ phiếu thưởng 50%

Công ty hoàn tất phát hành 216,44 triệu cổ phiếu thưởng (tỷ lệ 2:1, giao dịch không hưởng quyền từ 07/10/2026), nâng số cổ phiếu từ 432,89 lên 649,34 triệu và vốn điều lệ từ 4.328,9 lên 6.493,4 tỷ đồng, cổ phiếu quỹ bằng 0 theo thông báo ngày 20/10/2026. Lợi nhuận và vốn chủ không đổi, nên EPS bốn quý giảm từ 6.224 xuống 4.150 đồng, BVPS từ 32.786 xuống 21.858 đồng, còn P/E và P/B giữ nguyên.
BCTC quý III công bố ngày 30/10/2026 vẫn tính lãi cơ bản chín tháng 4.632 đồng trên bình quân 427,97 triệu cổ phiếu và sau khi trích 119,9 tỷ quỹ khen thưởng, phúc lợi; chưa điều chỉnh thưởng thì con số đó tương đương 3.088 đồng. Bài dùng 649,34 triệu cổ phiếu cho mọi chỉ tiêu theo cổ phiếu và giá đã điều chỉnh của dữ liệu giá.
Cổ đông và thanh khoản

Nhà đầu tư nước ngoài nắm 38,19% vốn, còn 10,81% room dưới giới hạn 49%, và cổ phiếu tự do chuyển nhượng là 95%. Danh sách cổ đông trong cơ sở dữ liệu không có cổ đông nào trên 5,43%: lớn nhất là quỹ ETF DCVFMVN Diamond (5,43%) và KIM Vietnam Growth Equity Fund (2,24%), cập nhật ngày 05/10/2025; Chủ tịch HĐQT Đỗ Văn Nhân nắm 0,81% và Tổng giám đốc Nguyễn Thanh Bình 0,33% theo cập nhật tháng 08/2026.
Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 1,84 triệu cổ phiếu, bằng 1,40 lần trung bình 60 phiên (1,31 triệu), và phiên 22/10/2026 đạt 3,50 triệu cổ phiếu khi giá lên đỉnh 57.500 đồng. Khối lượng trước 07/10/2026 có thể còn tính theo số cổ phiếu cũ nên tỷ lệ này có thể bị phóng đại.
Khối ngoại và tự doanh

Khối ngoại đang bán ròng. Trong 12 tháng tới 30/10/2026 họ mua 8.882,0 tỷ đồng và bán 9.799,2 tỷ, tức bán ròng 917,2 tỷ, với 143 phiên bán ròng và 105 phiên mua ròng trong 248 phiên. Giao dịch thoả thuận chiếm 3.630,4 tỷ trong số này, nên dòng ròng không chỉ là khớp lệnh.
Theo quý, khối ngoại bán ròng 55 tỷ quý IV/2024 và 1.096 tỷ quý I/2025, bán ròng 236 tỷ rồi mua ròng 632 tỷ, 88 tỷ và 297 tỷ ba quý tiếp theo, trước khi bán ròng ba quý liên tiếp: 227 tỷ quý II/2026, 410 tỷ quý III/2026 và 225 tỷ quý IV (tới 30/10). Trong 30 phiên gần nhất bán ròng 234 tỷ, và 90 phiên bán ròng 771 tỷ.

Luỹ kế 12 tháng cho thấy dòng bán không đi cùng giá giảm. Khối ngoại bán ròng luỹ kế xuống mức thấp nhất âm 1.383 tỷ đồng ngày 20/01/2026, hồi về quanh hoà vốn giữa tháng 04, rồi trượt lại về âm 917 tỷ ngày 30/10/2026, trong khi giá đóng cửa tăng 15,4% từ 45.680 đồng (30/10/2025, đã điều chỉnh thưởng) lên 52.700 đồng.

Tỷ lệ nắm giữ của khối ngoại là 38,19% ngày 30/10/2026 (165,3 triệu cổ phiếu theo cơ sở trước thưởng), so với 45,90% cuối 2024 và 41,46% cuối 2025. Tỷ lệ đã giảm từ 45,90% xuống 38,19% trong khi giới hạn là 49%, nên room còn 10,81% và chưa là ràng buộc.

Tự doanh đi ngược khối ngoại ở quý III. Dữ liệu tự doanh có đủ tới 30/10/2026: mua ròng 793 tỷ đồng riêng quý III/2026, trong đó hai phiên 13/07 (221 tỷ) và 20/07 (300 tỷ) chiếm 522 tỷ; quý IV tới 30/10 là bán ròng 188 tỷ và quý I/2026 bán ròng 234 tỷ. Trong 12 tháng tự doanh mua ròng 451 tỷ, 90 phiên mua ròng 626 tỷ và 30 phiên bán ròng 37 tỷ.
So sánh cùng ngành

Nhóm so sánh gồm bốn mã cảng, logistics cảng và tàu container, HAH, PHP, DVP và TCL, cùng hai mã vận tải biển, VOS và PVT, vì GMD đang có cả hai mảng sau khi hợp nhất tàu. Trung vị tính trên sáu mã, bốn quý tới quý III/2026, không gồm GMD. Mã VSC bị loại vì chưa có báo cáo quý III trong cơ sở dữ liệu.
Cổ phiếu GMD có P/E 12,70 lần cao hơn trung vị 7,21 lần 76,2% và P/B 2,41 lần cao hơn trung vị 1,48 lần 62,9%; chỉ PHP có P/E gần nhất (10,20 lần). ROE 20,2% thấp hơn trung vị 23,6%, trong khi EV/EBITDA 7,6 lần gấp hơn hai lần trung vị 3,3 lần. Biên gộp bốn quý 43,3% cao hơn trung vị 27,3%, vay trên vốn chủ 0,19 lần thấp hơn 0,32, và lợi nhuận quý tăng 40,8% so với trung vị 25,0% (PHP tăng 55,8%, PVT 42,4%).

Cổ phiếu GMD có P/B cao nhất nhóm (2,41 lần) trong khi ROE thấp hơn trung vị; chỉ PHP cùng nằm ở góc này (P/B 2,07 lần, ROE 21,5%), còn DVP có P/B 2,17 lần với ROE 27,9%. HAH có ROE 27,0% với P/B 1,74 lần, còn VOS và PVT có ROE 17,0% và 16,9% cùng P/B 0,73 và 1,11 lần.
Định giá theo P/E, P/B và DCF
Cổ phiếu GMD vừa là doanh nghiệp cảng vừa nắm lượng lớn cổ phần liên doanh, nên bài dùng P/E, P/B, P/B hợp lý theo ROE và DCF tách hai phần. EPS bốn quý là 4.150 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (2.694,5 tỷ) chia 649,34 triệu cổ phiếu. BVPS là 21.858 đồng, bằng vốn chủ cổ đông công ty mẹ chia số cổ phiếu.
Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Phần hoạt động hợp nhất được định giá bằng DCF năm năm trên doanh thu quý III nhân bốn (8.839 tỷ đồng, vì quý III là quý đầu hợp nhất mảng tàu), doanh thu đổi 0%, +3% hoặc +5% mỗi năm, biên EBIT hoạt động 12%, 15% hoặc 24% (quý III là 14,3%, bốn quý gần nhất 24,1%), thuế 20%, khấu hao 6,3% doanh thu, chi đầu tư giảm từ 17,5% (chín tháng 2026) xuống 9%, vốn lưu động 10% phần doanh thu tăng thêm, WACC 11% và tăng trưởng dài hạn 2%.
Giá trị vốn chủ cổ đông GMD bằng giá trị DCF của phần hoạt động, cộng tiền và đầu tư ngắn hạn trừ vay (2.695 tỷ), cộng phần liên doanh, liên kết, trừ lợi ích cổ đông không kiểm soát theo sổ sách (2.115 tỷ). Phần liên doanh, liên kết bằng giá trị sổ sách 5.073 tỷ (kịch bản thấp), lãi bốn quý 1.434 tỷ nhân P/E trung vị nhóm 7,21 lần (kịch bản cơ sở) hoặc nhân 10 lần (kịch bản cao).

Mười hai phép cho giá trị từ 16.058 đến 53.430 đồng. Mười một phép thấp hơn giá 52.700 đồng, và chỉ P/B hợp lý với ROE 25% (53.430 đồng, cao hơn giá 1,4%) cao hơn. P/E trung vị nhóm cho 29.917 đồng (thấp hơn giá 43,2%), P/B trung vị cho 32.343 đồng (thấp hơn 38,6%) và DCF cơ sở cho 28.720 đồng, thấp hơn giá 45,5%.
Muốn giá 52.700 đồng là hợp lý theo P/B, ROE bền vững cần khoảng 24,7%, so với 20,2% hiện tại (đã gồm lãi chuyển nhượng). ROE 20% cho 41.287 đồng, thấp hơn giá 21,7%, và DCF kịch bản cao (doanh thu +5%, biên 24%, liên doanh 10 lần lãi) cho 48.276 đồng, vẫn thấp hơn giá 8,4%.

DCF cơ sở cho 28.720 đồng, và mười lăm ô của lưới độ nhạy đều từ 25.511 đến 35.159 đồng, không ô nào cao hơn giá. Lưới chỉ đổi WACC và g của phần hoạt động; kết quả vì vậy nhạy với bội số của phần liên doanh hơn: mỗi 1 lần P/E ở phần này đổi giá trị mỗi cổ phiếu khoảng 2.208 đồng.
Thang giá tham chiếu

Thang giá xếp các phép theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 57.500 đồng (22/10/2026), đáy đóng cửa 37.190 đồng (12/12/2025) và giá trị sổ sách 21.858 đồng.
Giá nằm giữa DCF cao (48.276 đồng) ở dưới và P/B hợp lý ROE 25% (53.430 đồng) ở trên, lần lượt thấp hơn giá 8,4% và cao hơn giá 1,4%. Phép P/B tứ phân vị trên (43.488 đồng) và P/B hợp lý ROE 20% (41.287 đồng) nằm trên đáy 52 tuần, còn tám phép khác, từ DCF thấp 16.058 đến P/B trung vị 32.343 đồng, đều nằm dưới đáy 52 tuần.
Phân tích kỹ thuật
Biểu đồ tuần của cổ phiếu GMD tăng từ đáy 37.190 đồng ngày 12/12/2025 lên đỉnh 57.500 đồng ngày 22/10/2026, rồi giảm 8,3% còn 52.700 đồng trong sáu phiên. Từ đầu năm GMD tăng 33,4% trong khi VN-Index giảm 2,4%; 250 phiên tăng 22,3% so với VN-Index tăng 3,6%, nhưng 120 phiên giảm 0,3% so với VN-Index giảm 8,4% và 60 phiên tăng 3,3% so với giảm 2,0%.
Hỗ trợ - Kháng cự

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 10/2023. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần); vùng 57.800 đến 58.000 gồm một đỉnh swing và hai đỉnh tuần 10/2026 chưa đủ ba tuần xác nhận.
Vùng giá (đồng) | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
57.800 tới 58.000 | Kháng cự xa | Đỉnh tuần 06/03/2026 (57.990), 23/10/2026 (57.900) và 30/10/2026 (57.800); cao hơn giá 9,7% đến 10,1% |
52.400 tới 54.700 | Kháng cự gần (giá đang nằm trong vùng) | Năm đỉnh tuần: 03/04/2026 (52.420), 15/05/2026 (53.450), 19/06/2026 (53.340), 17/07/2026 (52.870), 14/08/2026 (54.670) |
47.900 tới 49.000 | Hỗ trợ | Đáy tuần 05/06/2026 (47.940) và 18/09/2026 (49.000); thấp hơn giá 7,0% đến 9,1% |
44.600 tới 45.300 | Hỗ trợ dưới | Đáy tuần 03/04/2026 (45.290) và 24/07/2026 (44.670); thấp hơn giá 14,0% đến 15,4% |
Vùng 52.400 đến 54.700 đồng là dải giá mà cổ phiếu đã đi qua nhiều lần từ tháng 04/2026, và giá 52.700 đồng nằm sát mép dưới. Phía trên, đỉnh 57.500 đồng (đóng cửa 22/10/2026) trùng vùng 57.800 đến 58.000; phía dưới, vùng 47.900 đến 49.000 đồng có hai đáy tuần và nằm ngay trên đường xu hướng tăng.
Đường xu hướng tăng nối đáy tuần 11/04/2025 (26.460), 19/12/2025 (36.870) và 24/07/2026 (44.670), đi qua khoảng 48.533 đồng ở tuần cuối, thấp hơn giá 7,9% và nằm trong vùng hỗ trợ 47.900 đến 49.000. Đóng cửa tuần dưới đường này đưa giá về vùng 44.600 đến 45.300 đồng. Đỉnh 52 tuần (đóng cửa) là 57.500 đồng ngày 22/10/2026, đáy 52 tuần là 37.190 đồng ngày 12/12/2025, và đáy chu kỳ từ 09/2022 theo giá đóng cửa tuần là 21.330 đồng ngày 18/11/2022.
Fibonacci

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp tăng từ đáy 37.190 đồng ngày 12/12/2025 lên đỉnh 57.500 đồng ngày 22/10/2026, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đỉnh xuống là 23,6% (52.707 đồng), 38,2% (49.742 đồng), 50% (47.345 đồng), 61,8% (44.948 đồng) và 78,6% (41.536 đồng).
Giá 52.700 đồng đã hồi 23,6% nhịp tăng, chỉ cách mức 23,6% bảy đồng. Mức 38,2% nằm cạnh vùng hỗ trợ 47.900 đến 49.000 đồng, mức 50% ngay dưới mép dưới vùng này, và mức 61,8% nằm trong vùng 44.600 đến 45.300 đồng.
Xu hướng EMA

Giá 52.700 đồng thấp hơn EMA10 tuần và cao hơn bốn đường còn lại: EMA10 ở 53.133, EMA20 ở 51.993, EMA50 ở 48.910, EMA100 ở 45.173 và EMA200 ở 39.496 đồng. Giá thấp hơn EMA10 0,8%, cao hơn EMA20 1,4%, EMA50 7,7%, EMA100 16,7% và EMA200 33,4%.
EMA20 tuần cắt lên EMA50 ngày 29/08/2025 và chưa cắt xuống lại, còn EMA50 đã cắt lên EMA200 từ 04/12/2020. Cả năm đường xếp theo thứ tự EMA10 trên EMA20, EMA50, EMA100, EMA200 và đều dốc lên, nên xu hướng tuần vẫn là tăng, với EMA20 (51.993 đồng) và EMA50 (48.910 đồng) là hai đường gần giá nhất.
RSI và động lượng

RSI(14) tuần ở 53,2, vùng trung tính, sau khi lên 64,5 ở tuần 23/10/2026. Lần quá mua gần nhất là tuần 27/02/2026 (76,2) và RSI cắt xuống 70 ở tuần 06/03/2026, đúng tuần có đỉnh 57.990 đồng; lần quá bán gần nhất là tuần 11/04/2025 (22,2).

MACD tuần cắt lên đường tín hiệu ngày 09/10/2026, và histogram dương bốn tuần liên tiếp (5, 65, 285 rồi 115 ở tuần cuối). MACD ở 1.541 trên tín hiệu 1.426 và trên 0 từ tuần 16/01/2026; histogram tuần cuối giảm từ 285 xuống 115, cùng nhịp với tuần giá giảm 7,7% từ 57.100 xuống 52.700 đồng.
Cổ tức

Cổ tức năm 2025 là 22% bằng tiền (2.200 đồng một cổ phiếu trước thưởng, tương đương 1.467 đồng sau thưởng), chốt quyền ngày 22/05/2026 và thanh toán dự kiến ngày 29/05/2026, tổng chi khoảng 938 tỷ đồng cho gần 426,5 triệu cổ phiếu theo báo chí tài chính. Mức này bằng 53,4% lợi nhuận mẹ năm 2025 (1.756 tỷ) và ứng với tỷ suất 2,8% ở giá 52.700 đồng; dòng tiền hợp nhất quý II ghi 1.059,3 tỷ đồng cổ tức đã trả, gồm cả cổ tức cho cổ đông thiểu số của công ty con.
Tài liệu tra được chưa có đề xuất cổ tức năm 2026. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối hợp nhất cuối quý III là 5.211,9 tỷ đồng, tăng từ 4.212,6 tỷ cuối 2025, và phần cổ tức phải chia trên số cổ phiếu tăng thêm 50% đã đi cùng đợt thưởng bằng cổ phiếu.
Lịch sự kiện cần theo dõi
Thời điểm | Sự kiện | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
Tháng 11/2026 | Niêm yết bổ sung 216,44 triệu cổ phiếu thưởng (HOSE quyết định thay đổi đăng ký niêm yết ngày 29/10/2026) | Mọi chỉ tiêu theo cổ phiếu tính trên 649,34 triệu cổ phiếu |
Tháng 01 đến 02/2027 | Kết quả quý IV/2026 và cả năm | Quý đầu tiên hợp nhất đủ hai quý mảng tàu; biên gộp quý III là 31,8% và lợi nhuận trước thuế chín tháng đã bằng 106,3% kế hoạch 2.800 tỷ |
Quý II/2027 | Đại hội cổ đông thường niên | Kế hoạch 2027 và cổ tức năm 2026 (chưa có đề xuất) |
Từ quý IV/2027 | Gemalink giai đoạn 2 dự kiến vận hành | Công suất trên 3 triệu TEU một năm, và phần vốn cho giai đoạn này nằm ở Gemalink |
Các tuần tới | Giá đóng cửa tuần so với 52.400 đến 54.700 và 47.900 đến 49.000 đồng | Hai mép dải giá hiện tại; đường xu hướng tăng ở khoảng 48.533 đồng |
Kết luận
Cổ phiếu GMD ghi nhận lợi nhuận mẹ 443,9 tỷ đồng quý III/2026, thấp hơn quý II 60,5% vì quý II có khoản lãi chuyển nhượng, và doanh thu tăng 41,6% nhưng lãi gộp chỉ tăng 5,4% khi biên gộp tụt xuống 31,8% sau hợp nhất mảng tàu và logistics. Bảng cân đối vững: tiền 5.331 tỷ so với vay 2.636 tỷ và dòng tiền kinh doanh chín tháng 1.522 tỷ.
Điểm yếu nằm ở chất lượng của con số lợi nhuận. Lãi chuyển nhượng 611,9 tỷ nằm trong EPS bốn quý, lãi liên doanh bằng 35,0% lợi nhuận trước thuế, trong đó 77,9% đến từ Gemalink mà thuyết minh không ghi cổ tức nhận từ cảng này. Về giá, P/E 12,70 lần và P/B 2,41 lần cao hơn trung vị nhóm 76,2% và 62,9%, 11 trong 12 phép định giá thấp hơn giá; về kỹ thuật, giá nằm trong vùng kháng cự 52.400 đến 54.700 đồng với hỗ trợ gần nhất 47.900 đến 49.000 đồng.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.