Phân tích cổ phiếu CII Quý 4/2026: Lãi vay nuốt 87,5% lãi gộp quý III
Nội dung bài15 phần
- Định giá cổ phiếu CII: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Cổ đông CII giữ bao nhiêu lãi
- Lãi vay và nợ vay
- Dòng tiền kinh doanh
- Tiền mặt và nợ ngắn hạn
- Cổ đông và thanh khoản
- Khối ngoại và tự doanh
- So sánh cùng ngành
- Định giá theo P/B, EV/EBITDA, DCF
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Cổ tức
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
Định giá cổ phiếu CII Quý 4/2026 bắt đầu từ chi phí lãi vay. Quý III/2026 CII ghi lãi gộp 518,0 tỷ đồng, nhưng chi phí lãi vay 453,3 tỷ đồng lấy đi 87,5% số đó, và lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ chỉ còn 6,6 tỷ đồng.
Doanh thu thuần quý III tăng 27,9% so với cùng kỳ, lên 913,7 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận cổ đông mẹ thấp hơn cùng kỳ 40,2% (11,1 tỷ) và thấp hơn quý II 43,4% (11,7 tỷ). Trong 49,4 tỷ lãi hợp nhất, cổ đông thiểu số của các công ty con hưởng 42,8 tỷ.
Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 13.200 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần 51,5% và cao hơn đáy 12,8%. Bài tách phần lãi về tay cổ đông CII, đọc nợ vay và dòng tiền, rồi đến so sánh cùng ngành, định giá và đồ thị tuần.
Điểm chính
- Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ quý III/2026 là 6,6 tỷ đồng; chín tháng đạt 39,3 tỷ, giảm 32,1% so với 57,9 tỷ cùng kỳ dù doanh thu chín tháng tăng 16,7% (2.498 tỷ) và lãi gộp tăng 20,1%.
- Chi phí lãi vay quý III bằng 87,5% lãi gộp, tăng 40,0% so với cùng kỳ (từ 323,8 lên 453,3 tỷ) và gấp 1,5 lần quý I/2025; hệ số trả lãi chỉ còn 1,16 lần.
- Cổ đông CII giữ 13,4% lãi hợp nhất quý III (6,6 trên 49,4 tỷ); cổ đông thiểu số hưởng 42,8 tỷ, tức 86,6%.
- Vay 25.535 tỷ đồng gấp 2,6 lần vốn chủ cổ đông mẹ (9.683 tỷ), chưa gồm trái phiếu chuyển đổi 3.257 tỷ cuối quý II; tiền và đầu tư ngắn hạn 7.099 tỷ vừa bằng vay ngắn hạn 7.098 tỷ; chín tháng dòng tiền kinh doanh âm 1.652 tỷ và chi mua sắm tài sản cố định 3.876 tỷ.
- Giá 13.200 đồng ứng với P/B 0,92 lần (trung vị nhóm 0,86) và ROE 1,1% (trung vị 5,6%); 13 trong 15 phép định giá thấp hơn giá, và DCF cơ sở chỉ cho 1.182 đồng vì nợ vay ròng hấp thụ gần hết giá trị doanh nghiệp.

Định giá cổ phiếu CII: quy mô
Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM (CII) niêm yết trên HOSE với 671,99 triệu cổ phiếu, vốn hoá theo giá 13.200 đồng là 8.870 tỷ đồng. Theo hồ sơ công ty, CII đầu tư, xây dựng và khai thác hạ tầng kỹ thuật đô thị theo phương thức BOT, BT, BOO, thu phí giao thông, kinh doanh nhà ở và tư vấn đầu tư; vốn điều lệ tăng từ 6.254,5 lên 6.719,9 tỷ đồng từ tháng 03/2026.
Quý III/2026 doanh thu thuần 913,7 tỷ đồng, tăng 27,9% so với cùng kỳ và 21,7% so với quý II. Chín tháng doanh thu 2.498 tỷ đồng, bằng 67,2% chỉ tiêu 3.720 tỷ cả năm 2026, còn lợi nhuận cổ đông mẹ chín tháng 39,3 tỷ bằng 17,5% chỉ tiêu 225 tỷ, theo báo chí tài chính ngày 07/04/2026 dẫn tài liệu đại hội cổ đông.

Lợi nhuận mẹ biến động mạnh theo năm. Năm 2022 đạt đỉnh 695 tỷ đồng, năm 2021 lỗ 332 tỷ, rồi 124 tỷ năm 2025, trong khi doanh thu đi từ 5.748 tỷ năm 2022 xuống 2.960 tỷ. EPS bốn quý hiện là 157 đồng và ROE bốn quý là 1,1%, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ 9.683 tỷ cuối quý III.
Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Biên lãi gộp quý III là 56,7%, so với 48,7% cùng kỳ và 62,0% quý II, nên lãi gộp tăng 48,9% so với cùng kỳ (từ 348,0 lên 518,0 tỷ) và 11,3% so với quý II. Số liệu có được không tách giá vốn theo mảng, nên bài không gán biên gộp cao hay thấp cho một mảng cụ thể.
Phần lãi gộp đó đi gần hết vào lãi vay: chi phí lãi vay quý III bằng 87,5% lãi gộp, so với 93,0% cùng kỳ, 84,0% quý II và 70,3% quý I/2025. Bốn quý gần nhất tỷ lệ này là 80,4%, và lãi vay bằng 53,7% EBITDA báo cáo (2.844 tỷ đồng).

Cầu nối từ quý II sang quý III tách mức giảm 5,1 tỷ đồng của lợi nhuận cổ đông mẹ (từ 11,7 tỷ xuống 6,6 tỷ). Lãi gộp cộng 52,5 tỷ và thu nhập tài chính cộng 64,6 tỷ, nhưng chi phí lãi vay trừ 62,1 tỷ, chi phí tài chính ngoài lãi vay trừ 52,2 tỷ và lợi nhuận khác trừ 24,1 tỷ (từ âm 9,6 tỷ xuống âm 33,7 tỷ).
Thuế cộng 10,2 tỷ vì lợi nhuận trước thuế giảm từ 86,4 tỷ xuống 70,9 tỷ, nhưng thuế suất thực vẫn là 30,3% (21,5 trên 70,9 tỷ). Chi phí bán hàng và quản lý giảm 5,7 tỷ.

So với cùng kỳ, lợi nhuận mẹ giảm 4,4 tỷ đồng (từ 11,1 tỷ xuống 6,6 tỷ) dù lãi gộp cộng 170,0 tỷ. Chi phí lãi vay trừ 129,5 tỷ, chi phí tài chính ngoài lãi vay trừ 76,4 tỷ (âm 55,7 tỷ quý III/2026, so với dương 20,7 tỷ quý III/2025), thuế trừ 14,0 tỷ, còn thu nhập tài chính cộng 30,3 tỷ và chi phí bán hàng, quản lý cộng 16,7 tỷ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi khoản điều chỉnh dự phòng là âm 55,8 tỷ quý III/2025 (hoàn nhập) và dương 17,2 tỷ quý III/2026 (trích lập); số liệu có được không cho biết khoản này có nằm toàn bộ trong chi phí tài chính hay không.

Thu nhập tài chính là khoản bù chính cho lãi vay nhưng không đều. Chín tháng đạt 449,5 tỷ đồng, giảm 23,0% so với 583,4 tỷ cùng kỳ, với quý I/2026 chỉ 90,9 tỷ rồi hồi lên 147,0 tỷ và 211,6 tỷ. CII giải thích quý II rằng một phần lợi ích của các dự án BOT đã được thu hồi qua doanh thu thu phí nên lợi nhuận tài chính giảm, theo báo chí tài chính ngày 31/07/2026.
Báo chí cùng ngày ghi CII mua khoảng 37 triệu cổ phiếu PC1 trong quý II với giá vốn 738 tỷ đồng, lãi tạm tính gần 113 tỷ theo giá thị trường cuối tháng 06, và cuối tháng 07 nhóm CII nắm 48,9 triệu cổ phiếu PC1 (11,9% vốn). Đây là lãi chưa thực hiện, và giá PC1 biến động sẽ chuyển thẳng vào thu nhập tài chính các quý sau.
Cổ đông CII giữ bao nhiêu lãi

Trong lợi nhuận trước thuế 70,9 tỷ đồng, thuế lấy 21,5 tỷ, còn lợi nhuận hợp nhất 49,4 tỷ. Cổ đông thiểu số hưởng 42,8 tỷ, nên cổ đông CII giữ 6,6 tỷ đồng, tức 13,4%.

Tỷ lệ giữ lại dao động từ 13,4% đến 52,4% trong bảy quý và quý III/2026 là mức thấp nhất. Lợi nhuận thiểu số quý III là 42,8 tỷ, tương đương quý II (43,1 tỷ) và cao hơn quý I/2026 (19,8 tỷ), nên khi lãi hợp nhất co lại, phần của cổ đông CII co nhanh hơn.
Cổ đông thiểu số nắm 3.534 tỷ đồng vốn chủ cuối quý III, bằng 26,7% tổng vốn chủ (13.217 tỷ), tăng 255 tỷ so với quý II. Số liệu có được không tách công ty con nào có cổ đông thiểu số lớn, nên bài không gán phần lãi này cho dự án cụ thể. Chín tháng 2026 lợi nhuận hợp nhất 145,0 tỷ giảm 39,9% so với 241,2 tỷ, còn lợi nhuận mẹ giảm 32,1%.
Lãi vay và nợ vay

Chi phí lãi vay không giảm quý nào từ quý I/2025: 298,7, 314,3, 323,8, 342,1, 342,1, 391,2 rồi 453,3 tỷ đồng, tăng 51,8% trong sáu quý. Chín tháng 2026 lãi vay 1.186,6 tỷ, tăng 26,7% so với 936,8 tỷ, nhanh hơn lãi gộp (20,1%) và doanh thu (16,7%).
Hệ số trả lãi, tính bằng lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay chia cho lãi vay, là 1,16 lần quý III và 1,24 lần bốn quý. Lãi vay đã trả bằng tiền quý III là 646,5 tỷ đồng, cao hơn chi phí ghi nhận 193,2 tỷ; chín tháng trả 1.630,7 tỷ so với 1.186,6 tỷ ghi nhận, và số liệu có được không giải thích phần chênh.

Vay và nợ thuê tài chính cuối quý III là 25.535 tỷ đồng, gồm vay ngắn hạn 7.098 tỷ (27,8%) và vay dài hạn 18.437 tỷ, bằng 2,6 lần vốn chủ cổ đông mẹ, so với 2,3 lần cuối quý III/2025. Vay bằng 9,0 lần EBITDA bốn quý, và nợ vay ròng 18.436 tỷ bằng 6,5 lần EBITDA.
Con số này chưa gồm trái phiếu chuyển đổi, 3.257 tỷ đồng cuối quý II (1.552 tỷ cuối năm 2025). Cuối quý III cơ sở dữ liệu không tách riêng khoản này, nhưng nợ dài hạn ngoài vay vẫn là 3.630 tỷ, gần bằng 3.650 tỷ cuối quý II. Số liệu có được không nêu giá chuyển đổi, nên bài chưa tính pha loãng.

Tiền vay đi vào ba khoản tài sản. Từ cuối quý III/2025, đầu tư tài chính ngắn hạn tăng 4.495 tỷ đồng (từ 2.113 lên 6.609 tỷ), phải thu dài hạn tăng 2.802 tỷ (từ 2.318 lên 5.120 tỷ) và hàng tồn kho tăng 3.280 tỷ (từ 2.397 lên 5.676 tỷ), tổng cộng 10.577 tỷ, trong khi vay tăng 5.185 tỷ và vốn chủ tăng 1.330 tỷ.
Theo báo chí tài chính ngày 31/07/2026, hàng tồn kho cuối quý II gồm bất động sản dở dang 5.067 tỷ đồng: NBB Garden III 1.611 tỷ, Delagi 1.390 tỷ, NBB II 1.228 tỷ và Sơn Tịnh 718 tỷ. Tài liệu đại hội cổ đông 2026 nêu nhu cầu vốn riêng năm 2026 khoảng 50.788 tỷ đồng cho toàn danh mục dự án và việc CII tham gia bảo lãnh vay cho tuyến cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận, tổng mức đầu tư gần 37.000 tỷ đồng (theo báo chí tài chính ngày 07/04/2026). Số liệu có được không cho biết khoản vay nào gắn với dự án nào.
Dòng tiền kinh doanh

Dòng tiền kinh doanh chín tháng âm 1.651,8 tỷ đồng, so với dương 5,4 tỷ cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế hợp nhất chín tháng vẫn dương 145,0 tỷ. Quý III âm 692,1 tỷ, quý II âm 716,6 tỷ và quý I âm 243,1 tỷ; riêng lãi vay đã trả chín tháng là 1.630,7 tỷ, nên trước lãi vay dòng tiền kinh doanh gần như hoà vốn (âm 21,1 tỷ).
Chi mua sắm tài sản cố định chín tháng là 3.876,2 tỷ đồng, so với 145,6 tỷ, gồm 1.723,5 tỷ quý II và 1.607,8 tỷ quý III. Tài sản cố định trên bảng cân đối lại giảm từ 15.502 tỷ cuối quý I xuống 15.160 tỷ cuối quý III, còn phải thu dài hạn tăng 2.820 tỷ, nên số liệu có được không cho thấy khoản chi này nằm ở dự án nào.
Tiền mặt và nợ ngắn hạn

Tiền và tương đương tiền cuối quý III chỉ 491 tỷ đồng, giảm từ 1.619 tỷ cuối quý II. Cộng đầu tư tài chính ngắn hạn 6.609 tỷ, thanh khoản là 7.099 tỷ đồng, vừa bằng vay ngắn hạn 7.098 tỷ.
Quý III dòng tiền tài chính ghi dương 1.197,5 tỷ (vay thêm 1.931,1 tỷ, trả nợ 933,5 tỷ), trong khi dòng tiền kinh doanh âm 692,1 tỷ và đầu tư âm 1.633,8 tỷ. Quý II CII vay thêm 6.279,3 tỷ, đúng quý đầu tư ngắn hạn tăng từ 3.456 lên 6.142 tỷ. Số liệu có được không nêu đầu tư này là tiền gửi hay trái phiếu; nếu phần này thu hồi chậm, nợ vay ròng thực tế cao hơn 18.436 tỷ.
Cổ đông và thanh khoản

Nhà đầu tư nước ngoài nắm 4,61% vốn ngày 30/10/2026, dưới giới hạn 40%, và cổ phiếu tự do chuyển nhượng là 95%. Nhà nước nắm 4,08% theo hồ sơ công ty.
Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 9,38 triệu cổ phiếu, bằng 1,08 lần trung bình 60 phiên (8,68 triệu), và giá trị khớp trung bình 20 phiên là 122,8 tỷ đồng mỗi phiên (117,6 tỷ ở 60 phiên). Mười hai tháng tới 30/10/2026 giá trị khớp là 63.514 tỷ đồng.
Khối ngoại và tự doanh

Trong 12 tháng tới 30/10/2026 khối ngoại mua 3.243,6 tỷ đồng và bán 3.500,8 tỷ, tức bán ròng 257,2 tỷ; giá trị mua bằng 5,1% và giá trị bán bằng 5,5% giá trị khớp. Có 145 phiên bán ròng và 103 phiên mua ròng trong 248 phiên.
Theo quý, quý IV/2025 là quý bán ròng lớn nhất, 406,1 tỷ đồng, sau quý III/2025 mua ròng 238,2 tỷ. Năm 2026 khối ngoại bán ròng 33,2 tỷ quý I và 185,8 tỷ quý II, mua ròng 5,9 tỷ quý III và 82,2 tỷ trong quý IV tính tới 30/10. Trong 30 phiên gần nhất họ mua ròng 91,3 tỷ, và 90 phiên mua ròng 80,3 tỷ.

Luỹ kế 12 tháng cho thấy khối ngoại bán khi giá giảm. Luỹ kế đạt đáy âm 356,6 tỷ đồng ngày 24/09/2026, rồi hồi về âm 257,2 tỷ khi giá hồi từ đáy đóng cửa 11.700 đồng (08/10/2026) lên 13.200 đồng. Cùng 12 tháng giá giảm 45,9%, từ 24.400 xuống 13.200 đồng.

Tỷ lệ nắm giữ là 2,49% cuối năm 2024, 5,35% cuối quý I/2026 và nay là 4,61%, tăng từ 3,61% cuối quý III. Khối ngoại còn 35,39% vốn, khoảng 237,8 triệu cổ phiếu, dưới giới hạn 40%, nên giới hạn sở hữu không phải ràng buộc với cổ phiếu này.

Dữ liệu tự doanh có tới ngày 30/10/2026. Khối này mua ròng 499,4 tỷ đồng quý IV/2025, trong đó hai phiên 13/11/2025 (123,7 tỷ) và 14/11/2025 (82,9 tỷ) chiếm 206,6 tỷ, sau khi bán ròng 99,7 tỷ quý I, 305,4 tỷ quý II và 50,3 tỷ quý III/2025. Năm 2026 giá trị ròng nhỏ: mua ròng 0,5 tỷ quý I, bán ròng 14,2 tỷ quý II, mua ròng 65,6 tỷ quý III và bán ròng 2,7 tỷ quý IV tới 30/10; 30 phiên gần nhất mua ròng 62,7 tỷ.
So sánh cùng ngành

Nhóm so sánh gồm VCG (xây dựng hạ tầng), REE (cơ điện và điện nước), DIG, NLG, DXG (bất động sản) và C4G (xây lắp hạ tầng), có vốn hoá từ 1.644 đến 28.302 tỷ đồng và đều đã công bố BCTC quý III/2026. Trung vị tính trên sáu mã, không gồm CII.
LGC là công ty con của CII nên bị loại, và HHV (hầm đường bộ) chưa có BCTC quý III trong cơ sở dữ liệu; nhóm vì vậy không có mã thu phí BOT thuần, và đây là điểm kém của phép so sánh.
Cổ phiếu CII có P/B 0,92 lần cao hơn trung vị 0,86 lần 6,3%, nhưng ROE 1,1% chỉ bằng 20% trung vị 5,6%. Vay trên vốn chủ 2,64 lần gấp 5,8 lần trung vị 0,45 lần, và EV/EBITDA 10,8 lần cao hơn trung vị 8,3 lần. Chỉ biên gộp bốn quý 57,3% vượt xa trung vị 28,6%.

Cổ phiếu CII nằm gần DXG (P/B 0,89 lần, ROE 0,9%) và C4G (0,41 lần, 1,0%) ở góc ROE thấp, còn VCG (9,7%), REE (12,8%) và DIG (7,0%) có ROE cao hơn 6 đến 11 lần. P/E 84,1 lần của CII gần DXG (111,8 lần) và C4G (40,0 lần), nên P/E không còn là thước đo tin cậy khi lợi nhuận mẹ chỉ bằng 1,2% vốn hoá.
Định giá theo P/B, EV/EBITDA, DCF
Cổ phiếu CII có lợi nhuận mẹ rất nhỏ và nợ vay ròng lớn, nên bài dùng P/E, P/B, EV/EBITDA nhóm, P/B hợp lý theo ROE và DCF. EPS bốn quý là 157 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (105,5 tỷ) chia 671,99 triệu cổ phiếu. BVPS là 14.410 đồng, bằng vốn chủ cổ đông công ty mẹ 9.683 tỷ chia số cổ phiếu.
Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Với EV/EBITDA, giá trị vốn chủ bằng bội số nhân EBITDA bốn quý (2.844 tỷ đồng, đã gồm 696 tỷ thu nhập tài chính) trừ nợ vay ròng 18.436 tỷ (vay 25.535 tỷ trừ tiền và đầu tư ngắn hạn 7.099 tỷ) và lợi ích thiểu số 3.534 tỷ theo sổ sách.
DCF năm năm trên số hợp nhất: doanh thu bốn quý 3.317 tỷ đồng, tăng 0%, 4% hoặc 7% mỗi năm; biên EBIT 39,7% (chỉ hoạt động kinh doanh, không thu nhập tài chính), 57,1% (bốn quý gần nhất, gồm thu nhập tài chính) hoặc 60,0%; thuế 20%, khấu hao 28,6% và chi đầu tư duy tu 10% doanh thu, vốn lưu động 10% phần doanh thu tăng thêm, WACC 11%. Giá trị cuối kỳ cho chi đầu tư bằng khấu hao, vì tài sản BOT hết hạn thu phí không tái đầu tư vô hạn.

Mười lăm phép cho giá trị từ âm 12.378 đến 14.679 đồng. Mười ba phép thấp hơn giá 13.200 đồng, và chỉ hai phép cao hơn: EV/EBITDA tứ phân vị trên (14.679 đồng, cao hơn 11,2%) và P/B hợp lý với ROE bền vững 12% (14.410 đồng, cao hơn 9,2%). Ba phép P/B nhóm cho 11.615 đến 12.847 đồng, thấp hơn giá 2,7% đến 12,0%.
Muốn giá 13.200 đồng là hợp lý theo P/B, ROE bền vững cần khoảng 11,2%, so với 1,1% hiện tại. EV/EBITDA trung vị nhóm (8,3 lần) cho 2.514 đồng, và tứ phân vị dưới (4,8 lần) cho giá trị âm vì nợ vay ròng cộng thiểu số (21.970 tỷ) lớn hơn giá trị doanh nghiệp.

DCF cơ sở cho 1.182 đồng, thấp hơn giá 91,0%; kịch bản cao cho 7.143 đồng và kịch bản thấp cho giá trị âm 11.637 đồng. Trong lưới độ nhạy, chỉ một ô trong mười lăm (WACC 9%, g 4%: 17.843 đồng) cao hơn giá, và sáu ô âm. Mỗi 1% biên EBIT làm giá trị doanh nghiệp đổi khoảng 356 tỷ đồng, tương đương 530 đồng mỗi cổ phiếu.
DCF chỉ định giá phần đang tạo tiền. Nợ vay còn tài trợ cho đầu tư ngắn hạn, phải thu dài hạn và bất động sản dở dang chưa đóng góp vào EBIT, nên giá thị trường đang trả cho cả phần đó. Nếu thêm trái phiếu chuyển đổi 3.257 tỷ vào nợ, mọi phép dựa trên EV giảm thêm khoảng 4.850 đồng mỗi cổ phiếu.
Thang giá tham chiếu

Thang giá xếp các phép theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 27.200 đồng (04/12/2025), đáy đóng cửa 11.700 đồng (08/10/2026) và giá trị sổ sách 14.410 đồng; hai phép âm nằm ở ô riêng phía dưới.
Giá nằm giữa nhóm P/B (11.615 đến 12.847 đồng) ở dưới và hai phép trên giá ở 14.410 và 14.679 đồng, lần lượt cao hơn giá 9,2% và 11,2%. Phép P/B hợp lý ROE 9% (9.607 đồng) thấp hơn đáy 52 tuần 17,9%, và mọi phép P/E, EV/EBITDA trung vị, DCF cơ sở đều nằm dưới 7.200 đồng.
Phân tích kỹ thuật
Biểu đồ tuần của cổ phiếu CII cho thấy một chu kỳ tăng giảm trọn vẹn: giá từ 10.130 đồng cuối tuần 11/04/2025 lên đỉnh đóng cửa 30.350 đồng ngày 17/10/2025 (tăng 199,6%), rồi giảm tới đáy đóng cửa 11.700 đồng ngày 08/10/2026 (giảm 61,5%), và hiện hồi 8,0% nhịp giảm đó. Từ đầu năm CII giảm 36,8% trong khi VN-Index giảm 2,4%; 120 phiên gần nhất giảm 32,7% so với VN-Index giảm 8,4%, nhưng 20 phiên gần nhất tăng 12,3% so với VN-Index tăng 0,2%.
Hỗ trợ - Kháng cự

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 09/2022. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần).
Vùng giá (đồng) | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
18.650 tới 20.800 | Kháng cự xa | Đỉnh tuần 15/09/2023 (19.090), 27/02/2026 (19.000), 17/04/2026 (20.800), 15/05/2026 (20.350), 19/06/2026 (18.650); cao hơn giá 41,3% đến 57,6% |
14.430 tới 15.200 | Kháng cự gần | Đỉnh tuần 24/11/2023 và 08/12/2023 (14.430), 12/01/2024 (14.990), 07/06/2024 (14.660), 28/08/2026 (15.200); cao hơn giá 9,3% đến 15,2% |
12.150 tới 12.940 | Hỗ trợ gần | Sáu đáy tuần từ 22/12/2023 đến 31/07/2026; thấp hơn giá 2,0% đến 8,0% |
11.250 tới 11.490 | Hỗ trợ | Đáy tuần 09/08/2024 (11.280), 15/11/2024 và 22/11/2024 (11.490), 17/01/2025 (11.250), 09/10/2026 (11.350); thấp hơn giá 13,0% đến 14,8% |
Vùng 14.430 đến 15.200 đồng là mốc gần nhất phía trên giá, cao hơn giá từ 9,3% đến 15,2%. Giá chạm 15.200 đồng ở tuần 28/08/2026; tuần 23/10/2026 đạt đỉnh tuần 14.300 đồng, thấp hơn mép dưới vùng 130 đồng, và đó cũng là giá đóng cửa tuần cao nhất tháng 10 (13.950 đồng).
Phía dưới, vùng 12.150 đến 12.940 đồng ngay dưới giá có sáu đáy tuần, và vùng 11.250 đến 11.490 đồng gồm đáy tuần 09/10/2026 (11.350 đồng), thấp hơn giá 13,0% đến 14,8%. Đỉnh 52 tuần (đóng cửa) là 27.200 đồng ngày 04/12/2025, đáy 52 tuần (đóng cửa) là 11.700 đồng ngày 08/10/2026, đỉnh chu kỳ từ 09/2022 (đóng cửa) là 30.350 đồng ngày 17/10/2025 và đáy chu kỳ (đóng cửa) là 8.340 đồng ngày 15/11/2022.
Fibonacci

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp tăng từ đáy 11.700 đồng ngày 08/10/2026 lên đỉnh 14.050 đồng ngày 22/10/2026, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đỉnh xuống là 23,6% (13.495 đồng), 38,2% (13.152 đồng), 50% (12.875 đồng), 61,8% (12.598 đồng) và 78,6% (12.203 đồng).
Giá 13.200 đồng đã hồi 36,2% nhịp tăng, cao hơn mức 38,2% khoảng 0,4%. Ba mức 50%, 61,8% và 78,6% nằm trong vùng hỗ trợ 12.150 đến 12.940 đồng, nên vùng này vừa là đáy tuần nhiều lần vừa là các mức hồi sâu của nhịp tăng gần nhất.
Xu hướng EMA

Giá 13.200 đồng nằm dưới cả năm đường EMA tuần: EMA10 ở 13.298, EMA20 ở 14.211, EMA50 ở 15.995, EMA100 ở 16.265 và EMA200 ở 16.002 đồng. Giá thấp hơn EMA10 0,7%, EMA20 7,1%, EMA50 17,5%, EMA100 18,8% và EMA200 17,5%.
EMA50 tuần cắt xuống EMA200 ngày 30/10/2026, với chênh lệch chỉ 7 đồng (15.995 và 16.002), nên tín hiệu này còn mỏng và cần tuần kế tiếp xác nhận. EMA20 đã cắt xuống EMA50 từ 05/06/2026, và lần cắt lên trước đó của EMA50 qua EMA200 là 12/09/2025, đúng giai đoạn giá lên đỉnh.
RSI và động lượng

RSI(14) tuần ở 41,4, sau khi chạm 30,0 ngày 02/10/2026, sát vùng quá bán. Lần trước RSI tuần dưới 30 là tuần 11/04/2025 (29,8), khi giá đóng cửa 10.130 đồng, và lần quá mua kéo dài 11 tuần liên tiếp từ 08/08 đến 17/10/2025, đạt đỉnh 89,2 ngày 15/08/2025, rồi cắt xuống 70 tuần 24/10/2025 đúng tuần giá bắt đầu giảm từ 30.350 xuống 26.700 đồng.

MACD tuần cắt lên đường tín hiệu ngày 23/10/2026, nhưng cả hai đường vẫn dưới 0: MACD âm 1.287, tín hiệu âm 1.386. Histogram dương 47 tuần 23/10 và 99 tuần 30/10, sau bốn tuần âm liền trước (từ âm 96 đến âm 186), nên động lượng giảm đang chậm lại chứ chưa đảo chiều lên.
Cổ tức

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất ghi 435,4 tỷ đồng cổ tức đã trả quý III/2025 và 159,2 tỷ quý I/2025; từ quý IV/2025 khoản này gần như bằng 0 (âm 5,6 tỷ quý IV/2025, rồi 5,7 đến 7,4 tỷ mỗi quý năm 2026), số liệu có được không cho biết đó là cổ tức trả cổ đông CII hay cổ đông ngoài của công ty con. Lãi sau thuế chưa phân phối hợp nhất là 1.634,1 tỷ đồng cuối quý III/2026, bằng khoảng 2.432 đồng mỗi cổ phiếu và thấp hơn mức 2.146,8 tỷ cuối quý I/2025.
Theo báo chí tài chính ngày 07/04/2026, tài liệu đại hội cổ đông đề xuất để hội đồng quản trị quyết định tạm ứng cổ tức bằng tiền với tổng mức không vượt 16% vốn điều lệ, và CII nói ưu tiên giữ vốn cho đầu tư. Với dòng tiền kinh doanh âm 1.652 tỷ đồng chín tháng và vay ngắn hạn 7.098 tỷ, bài chưa thấy cơ sở trong số liệu cho một đợt chi tiền mặt lớn.
Lịch sự kiện cần theo dõi
Thời điểm | Sự kiện | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
Tháng 01/2027 | Kết quả quý IV/2026 và cả năm | Chỉ tiêu lợi nhuận mẹ 225 tỷ cần 185,7 tỷ trong quý IV, gấp 28 lần quý III và 2,8 lần quý IV/2025 (66,2 tỷ) |
Trong 12 tháng tới | Vay ngắn hạn 7.098 tỷ đồng và trái phiếu chuyển đổi | Thanh khoản 7.099 tỷ vừa bằng vay ngắn hạn; giá chuyển đổi chưa được nêu trong số liệu có được |
Các quý tới | Chi phí lãi vay, thu nhập tài chính và giá PC1 | Lãi vay không giảm quý nào từ quý I/2025; thu nhập tài chính 91 tỷ quý I rồi 212 tỷ quý III |
Quý II/2027 | Đại hội cổ đông thường niên | Kế hoạch 2027, cổ tức và nhu cầu vốn danh mục dự án |
Các tuần tới | Giá đóng cửa tuần so với 12.150 đến 12.940 và 14.430 đến 15.200 đồng | Hai vùng quanh giá 13.200 đồng, sau EMA50 cắt xuống EMA200 |
Kết luận
Cổ phiếu CII ghi nhận lãi gộp 518,0 tỷ đồng quý III/2026 nhưng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ chỉ 6,6 tỷ, vì chi phí lãi vay 453,3 tỷ lấy 87,5% lãi gộp và cổ đông thiểu số hưởng 86,6% lãi hợp nhất. Chín tháng lợi nhuận mẹ giảm 32,1% dù doanh thu tăng 16,7%, và muốn đạt chỉ tiêu cả năm quý IV phải đạt 185,7 tỷ.
Điểm yếu nằm ở cấu trúc nợ. Vay 25.535 tỷ gấp 2,6 lần vốn chủ cổ đông mẹ, chưa kể trái phiếu chuyển đổi, và dòng tiền kinh doanh chín tháng âm 1.652 tỷ trong khi chi mua sắm tài sản cố định 3.876 tỷ. Về giá, P/B 0,92 lần cao hơn trung vị nhóm dù ROE 1,1% thấp hơn, và 13 trong 15 phép định giá thấp hơn giá. Về kỹ thuật, giá dưới cả năm đường EMA tuần với hỗ trợ gần 12.150 đến 12.940 đồng và kháng cự gần 14.430 đến 15.200 đồng.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.