Quỹ chỉ số và quỹ chủ động: hai cách quản lý, hai bộ quy định

Triều Tô6 phút đọc
Nội dung bài6 phần
  1. Quỹ chỉ số và quỹ chủ động: hai cách quản lý, hai bộ quy định
  2. Quỹ chỉ số quỹ tích cực theo luật
  3. Quỹ chỉ số được đầu tư vào đâu
  4. Sai lệch so với chỉ số tham chiếu
  5. Hạn mức của quỹ chủ động
  6. Chi phí của quỹ chỉ số quỹ tích cực

Quỹ chỉ số và quỹ chủ động: hai cách quản lý, hai bộ quy định

Quỹ chỉ số quỹ tích cực là hai cách quản lý tiền khác nhau: một bên bám theo chỉ số, một bên do người quản lý tự chọn tài sản. Pháp luật Việt Nam có định nghĩa riêng cho quỹ chỉ số. "Quỹ tích cực", hay quỹ chủ động, không phải thuật ngữ pháp lý. Nó là cách gọi quỹ mở thông thường, theo các quy định chung của quỹ mở. Văn bản được rà đến ngày 02/10/2026.

Quỹ chỉ số quỹ tích cực theo luật

Quỹ chỉ số quỹ tích cực khác nhau thế nào

Khoản 15 Điều 2 Thông tư 98/2020/TT-BTC định nghĩa quỹ chỉ số. Đó là quỹ mở đầu tư vào danh mục chứng khoán cấu thành một chỉ số chứng khoán. Chỉ số này do Sở giao dịch chứng khoán tại Việt Nam xây dựng, quản lý. Chỉ số còn phải đáp ứng quy định về quỹ hoán đổi danh mục.

Quy định về chỉ số tham chiếu nằm ở Điều 250 Nghị định 155/2020/NĐ-CP. Chỉ số cổ phiếu phải có tối thiểu 10 cổ phiếu. Tỷ trọng mỗi cổ phiếu không vượt quá 20% giá trị chỉ số. Thông tin chỉ số được công bố hằng ngày trên trang của Sở giao dịch chứng khoán.

Quỹ chủ động là quỹ mở thông thường. Người quản lý chọn tài sản theo chính sách đầu tư trong điều lệ quỹ. Quỹ phải tuân thủ hạn mức tại Điều 35 Thông tư 98/2020/TT-BTC. Điều này đã được Thông tư 136/2025/TT-BTC sửa.

Quỹ chỉ số được đầu tư vào đâu

Thông tư 136/2025/TT-BTC, hiệu lực từ 12/02/2026, thêm Điều 35a riêng cho quỹ chỉ số. Trước đó, quỹ chỉ số dùng chung Điều 35 với quỹ mở. Khoản 3 Điều 35a cho quỹ chỉ số đầu tư vào hai nhóm tài sản.

  1. Danh mục chứng khoán cơ cấu của chỉ số tham chiếu.
  2. Một số tài sản của quỹ mở như tiền gửi, công cụ thị trường tiền tệ, công cụ nợ của Chính phủ.

Chứng khoán phái sinh chỉ được dùng để phòng ngừa rủi ro và giảm mức sai lệch so với chỉ số. Cơ cấu đầu tư của quỹ chỉ số theo khoản 3 Điều 45, cùng điều khoản áp cho quỹ ETF. Nói cách khác, quỹ chỉ số được quản lý gần với ETF dù không niêm yết.

Sai lệch so với chỉ số tham chiếu

Các ngưỡng mức sai lệch của quỹ chỉ số quỹ tích cực

Mức sai lệch là chỉ tiêu quan trọng nhất của quỹ chỉ số. Quỹ không thể khớp chỉ số tuyệt đối. Chỉ số không trả phí, còn quỹ phải trả phí quản lý, lưu ký, giao dịch. Quỹ cũng giữ một phần tiền mặt để trả cho người bán lại chứng chỉ quỹ. Mỗi lần chỉ số đổi thành phần, quỹ phải mua bán để bám theo. Khoản 10 Điều 35a định nghĩa đó là mức chênh giữa giá trị tài sản ròng trên một chứng chỉ quỹ và chỉ số tham chiếu. Cách tính theo Phụ lục XIX Thông tư 98/2020/TT-BTC.

Công ty quản lý quỹ phải công bố mức sai lệch tối thiểu 02 lần trong 01 tháng trên trang của công ty. Mức sai lệch tối đa ghi trong điều lệ quỹ và bản cáo bạch. Mức này không được vượt mức tối đa mà Sở giao dịch chứng khoán áp cho quỹ ETF.

Hai ngưỡng kích hoạt nghĩa vụ xử lý.

Tình huống

Nghĩa vụ của công ty quản lý quỹ

Căn cứ

Sai lệch vượt 80% mức tối đa

Báo cáo trong 24 giờ, điều chỉnh danh mục trong 03 tháng

Khoản 12 Điều 35a

Sai lệch vượt mức tối đa

Báo cáo, công bố trong 24 giờ, điều chỉnh trong 01 tháng

Khoản 13 Điều 35a

Khi sai lệch vượt mức tối đa, quỹ còn được tạm dừng giao dịch chứng chỉ quỹ để cơ cấu lại danh mục. Quy định này do Thông tư 136/2025/TT-BTC bổ sung. Thời gian tạm dừng trong trường hợp này không quá 30 ngày.

Hạn mức của quỹ chủ động

Quỹ chủ động có biên độ chọn tài sản rộng hơn, nhưng bị giới hạn bằng hạn mức. Khoản 4 Điều 35 Thông tư 98/2020/TT-BTC đặt các mức chính sau.

  1. Không đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản vào chứng khoán của một tổ chức phát hành, trừ công cụ nợ của Chính phủ.
  2. Không nắm quá 10% số chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành.
  3. Tổng các hạng mục đầu tư lớn, mỗi hạng mục từ 5% tài sản, không quá 40% tổng giá trị tài sản.
  4. Phải có chứng khoán của ít nhất 06 tổ chức phát hành, trừ quỹ trái phiếu.

Thông tư 136/2025/TT-BTC mở thêm một số loại tài sản cho quỹ mở. Ví dụ là chứng quyền có bảo đảm niêm yết thanh toán bằng tiền, và một số trái phiếu riêng lẻ của tổ chức niêm yết. Các tài sản này đi kèm điều kiện và hạn mức riêng.

Cơ cấu của quỹ chủ động có thể vượt hạn mức trong một số trường hợp khách quan. Khoản 5 Điều 35 liệt kê biến động giá thị trường, thanh toán lệnh của nhà đầu tư, sáp nhập tổ chức phát hành. Quỹ mới thành lập chưa quá 06 tháng hoặc đang giải thể cũng thuộc diện này. Khi đó công ty quản lý quỹ phải báo cáo, công bố và điều chỉnh lại danh mục theo Điều 24. Khoản 6 Điều 35a áp cơ chế tương tự cho quỹ chỉ số.

Chi phí của quỹ chỉ số quỹ tích cực

Cả hai loại đều chịu các chi phí tại Điều 8 Thông tư 98/2020/TT-BTC, như chi phí quản lý quỹ, lưu ký, giám sát, kiểm toán. Điểm c mới tại khoản 3 Điều 37 thêm một khoản riêng cho quỹ chỉ số. Đó là chi phí trả cho tổ chức quản lý và vận hành chỉ số tham chiếu.

Văn bản không đặt mức phí cụ thể cho từng loại quỹ. Mức phí nằm trong điều lệ quỹ và bản cáo bạch. Khi so hai quỹ, bạn nên đặt cạnh nhau tổng chi phí và mức sai lệch đã công bố, thay vì chỉ nhìn lợi nhuận quá khứ.

Triết lý đầu tư theo chỉ số được trình bày ở bài 10 nguyên tắc đầu tư của John C. Bogle. Cách nhà đầu tư kỳ cựu chọn cổ phiếu chủ động có ở bài 10 nguyên tắc đầu tư của Peter Lynch. Văn bản có thể được sửa đổi, bổ sung. Bạn nên đọc bản mới nhất trên cổng văn bản của Chính phủ.

Nội dung bài viết chỉ để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư hay tư vấn pháp lý.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 03/11/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…