Phân tích cổ phiếu DPG Quý 4/2026: Nợ vay tăng 46,5% khi nhà máy kính chưa có doanh thu
Nội dung bài16 phần
- Định giá cổ phiếu DPG: quy mô
- Lợi nhuận quý III đến từ đâu
- Xây lắp lấn át mảng điện
- Thầu phụ từ hai công ty liên kết
- Phải thu, trả trước và tồn kho
- Vay nợ và nhà máy kính
- Dòng tiền và nguồn vốn
- Kế hoạch 2026, vốn và cổ tức
- Cổ đông và thanh khoản
- Khối ngoại và tự doanh
- So sánh cùng ngành
- Định giá theo P/E, P/B và DCF
- Thang giá tham chiếu
- Phân tích kỹ thuật
- Hỗ trợ - Kháng cự
- Fibonacci
- Xu hướng EMA
- RSI và động lượng
- Lịch sự kiện cần theo dõi
- Kết luận
Định giá cổ phiếu DPG Quý 4/2026 bắt đầu từ một quý lãi tăng mạnh trong lúc nợ vay tăng gần một nửa chỉ sau chín tháng. Lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ quý III là 110,9 tỷ đồng, tăng 53,8% so với cùng kỳ, còn vay và nợ thuê tài chính lên 5.665,8 tỷ đồng, tăng 46,5% so với đầu năm.
Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 28.850 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần (47.080 đồng, 26/02/2026) 38,7%. Giá cũng thấp hơn 19,1% so với mức bình quân khoảng 35.656 đồng mà công ty thu được khi phát hành thêm 17,79 triệu cổ phiếu trong quý I/2026.
Điểm chính
- Lợi nhuận mẹ quý III tăng 53,8% lên 110,9 tỷ, nhưng lợi nhuận sau thuế hợp nhất chỉ tăng 26,5% lên 105,4 tỷ vì phần của cổ đông thiểu số chuyển từ lãi 11,2 tỷ thành lỗ 5,5 tỷ; xây lắp tạo 177,6 trong 181,2 tỷ lãi gộp, mảng điện còn 7,4 tỷ (cùng kỳ 52,2 tỷ).
- Vay tăng từ 3.866,3 lên 5.665,8 tỷ, vay trên vốn chủ 1,50 lần, vay ròng 4.604,4 tỷ bằng 5,3 lần EBITDA bốn quý; nhà máy kính chiếm 1.666,0 trong 2.470,3 tỷ xây dựng dở dang và chưa tạo doanh thu.
- Giá trị mua khối lượng xây lắp từ hai công ty liên kết (DPG nắm 49% mỗi công ty) là 1.635,0 tỷ trong chín tháng, bằng 48,1% giá vốn xây lắp; phải thu Công ty Sông Hồng 518,5 tỷ chiếm 45,1% phải thu khách hàng và chưa lập dự phòng.
- Chín tháng đạt 49,4% kế hoạch doanh thu nhưng 63,0% kế hoạch lợi nhuận mẹ; quý IV cần doanh thu 4.303,9 tỷ, nhiều hơn cả chín tháng (4.209,7 tỷ).
- Giá 28.850 đồng ứng với P/E 8,17 lần và P/B 1,12 lần (trung vị nhóm 9,21 và 0,88); bảy trong mười hai phép định giá thấp hơn giá, và DCF chỉ tính hoạt động hiện có cho giá trị doanh nghiệp thấp hơn vay ròng.

Định giá cổ phiếu DPG: quy mô
Công ty cổ phần Tập đoàn Đạt Phương (DPG) niêm yết trên HOSE, ngày giao dịch đầu tiên 22/05/2018, với 118,59 triệu cổ phiếu; vốn hoá theo giá 28.850 đồng là 3.421,2 tỷ đồng. Theo thuyết minh BCTC, hoạt động chính là xây lắp công trình dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, đầu tư thuỷ điện và kinh doanh bất động sản, với 566 nhân sự (đầu năm: 444).
Tập đoàn có sáu công ty con hợp nhất: hai công ty thuỷ điện Sông Bung (nắm 61,32%) và Sơn Trà (68,30%), Đạt Phương Hội An (88,89%, bất động sản), Kính Đạt Phương (80,75%, kính hoa siêu trắng), Bee Foods và Fukunana (100%, điện mặt trời áp mái). Hai công ty liên kết là Xây dựng Đạt Phương số 1 và số 2, DPG nắm 49% mỗi công ty.
Quý III/2026 doanh thu thuần là 1.854,3 tỷ đồng, tăng 57,7%; chín tháng đạt 4.209,7 tỷ, tăng 47,9%. Lợi nhuận mẹ chín tháng là 286,6 tỷ, tăng 36,8%, nhưng lãi cơ bản trên cổ phiếu theo BCTC chỉ tăng 21,3% (2.490 so với 2.053 đồng) vì số cổ phiếu bình quân tăng.

Từ 2019 đến 2025 doanh thu thuần tăng 2,3 lần (1.973 lên 4.484 tỷ) nhưng lợi nhuận mẹ chỉ tăng 1,7 lần (193,6 lên 327,1 tỷ), nên biên lợi nhuận mẹ trên doanh thu giảm từ 9,8% xuống 7,3%, và còn 6,8% trong chín tháng 2026. EPS bốn quý là 3.530 đồng và ROE bốn quý là 16,2%, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ 3.067,0 tỷ cuối quý III.
Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Biên lãi gộp quý III là 9,8%, thấp hơn 11,5% cùng kỳ, nên lãi gộp tăng 34,1% (từ 135,2 lên 181,2 tỷ), chậm hơn doanh thu 57,7%. Chi phí tài chính tăng 67,4% lên 49,5 tỷ, riêng lãi vay là 48,2 tỷ (tăng 63,2%), trong khi thu nhập tài chính tăng từ 5,2 lên 25,8 tỷ nhờ lãi tiền gửi có kỳ hạn 21,6 tỷ.
Lợi nhuận trước thuế tăng 41,2% lên 139,3 tỷ. Thuế TNDN tăng 120,8% lên 34,0 tỷ, thuế suất thực tế 24,4% so với 15,6% cùng kỳ (thuế suất phổ thông 20%, riêng thuỷ điện 10%). Lợi nhuận sau thuế hợp nhất là 105,4 tỷ (tăng 26,5%); cổ đông thiểu số lỗ 5,5 tỷ nên lợi nhuận mẹ là 110,9 tỷ.
Giải trình công bố ngày 29/10/2026 chỉ nêu doanh thu hợp nhất tăng 678 tỷ đồng, chủ yếu nhờ xây lắp. Lợi nhuận sau thuế riêng của công ty mẹ là 127,7 tỷ (tăng 151,2%), cao hơn lợi nhuận hợp nhất 22,3 tỷ; phần chênh gồm kết quả các công ty con và điều chỉnh hợp nhất, thuyết minh không tách riêng.

Cầu nối từ quý III/2025 sang quý III/2026 tách mức tăng 38,8 tỷ đồng của lợi nhuận mẹ (từ 72,1 lên 110,9 tỷ). Lãi gộp cộng 46,1 tỷ, thu nhập tài chính cộng 20,6 tỷ, lãi liên kết cộng 7,0 tỷ và phần của cổ đông thiểu số cộng 16,7 tỷ, còn thuế trừ 18,6 tỷ, chi phí tài chính trừ 19,9 tỷ, bán hàng và quản lý trừ 11,2 tỷ, lợi nhuận khác trừ 1,9 tỷ.
Như vậy khoản chuyển của cổ đông thiểu số từ lãi sang lỗ chiếm 43% mức tăng lợi nhuận mẹ. Đó là thay đổi trong cách chia lợi nhuận hợp nhất, không phải lợi nhuận kinh doanh thêm.

So với quý II, lợi nhuận mẹ giảm 9,6 tỷ đồng (từ 120,4 tỷ). Thuế trừ 29,2 tỷ, chi phí tài chính trừ 11,4 tỷ, bán hàng và quản lý trừ 7,9 tỷ, lợi nhuận khác trừ 5,8 tỷ và lãi gộp trừ 4,9 tỷ, được bù bằng phần của cổ đông thiểu số cộng 25,3 tỷ và thu nhập tài chính cộng 23,7 tỷ.
Xây lắp lấn át mảng điện

Xây lắp đóng góp 1.681,1 tỷ đồng doanh thu quý III, bằng 90,7% tổng doanh thu và tăng 58,2%; chín tháng là 3.704,0 tỷ, tăng 54,2%. Doanh thu bán điện quý III chỉ còn 49,6 tỷ, giảm 46,7%, và chín tháng là 327,7 tỷ, giảm 19,8%.
Thuyết minh không nêu nguyên nhân của mức giảm doanh thu điện. Mảng điện gồm hai nhà máy thuỷ điện và điện mặt trời áp mái, nên bài không quy cho một yếu tố cụ thể.

Lãi gộp quý III của xây lắp là 177,6 tỷ, bằng 98,0% lãi gộp toàn tập đoàn (181,2 tỷ), với biên 10,6% so với 6,3% cùng kỳ. Mảng điện chỉ còn 7,4 tỷ lãi gộp (biên 15,0%), so với 52,2 tỷ (biên 56,0%) quý III/2025.
Chín tháng bức tranh dài hạn hơn: xây lắp 304,1 tỷ lãi gộp (biên 8,2%, cùng kỳ 6,9%) và mảng điện 203,0 tỷ (biên 61,9%, cùng kỳ 70,2%), tức mảng điện vẫn chiếm 39,6% lãi gộp. Cổ đông thiểu số nắm 38,7% Sông Bung và 31,7% Sơn Trà; phần lợi nhuận của thiểu số chín tháng giảm từ 78,4 xuống 45,9 tỷ, và lợi nhuận mẹ tăng nhanh hơn lợi nhuận hợp nhất (36,8% so với 15,5%).
Hai mảng còn lại đang ở giai đoạn đầu. Dịch vụ quý III có doanh thu 45,0 tỷ nhưng giá vốn 54,4 tỷ, tức lỗ gộp 9,3 tỷ. Bất động sản ghi doanh thu 78,4 tỷ và giá vốn 73,0 tỷ, lãi gộp 5,4 tỷ (biên 6,9%); thuyết minh không nêu dự án nào tạo ra doanh thu này.
Thầu phụ từ hai công ty liên kết

Thuyết minh V.2c ghi DPG mua khối lượng xây lắp từ Xây dựng Đạt Phương số 1 là 378,9 tỷ đồng quý III (904,6 tỷ chín tháng) và từ số 2 là 327,0 tỷ (730,4 tỷ). Hai khoản này cộng lại 705,9 tỷ quý III, bằng 47,0% giá vốn hợp đồng xây dựng 1.503,5 tỷ, và 1.635,0 tỷ chín tháng, bằng 48,1% giá vốn 3.399,9 tỷ.
Cách so sánh này chỉ cho thấy quy mô: thuyết minh không nói bao nhiêu phần của giá trị mua đã đi vào giá vốn. Ngoài khối lượng xây lắp, DPG còn mua vật tư từ hai công ty 202,3 tỷ quý III (566,8 tỷ chín tháng) và cho họ thuê thiết bị, doanh thu 31,9 tỷ quý III (79,1 tỷ chín tháng).
Tập đoàn nắm 49% mỗi công ty; giá trị ghi sổ khoản đầu tư là 83,9 tỷ (35,5 tỷ và 48,5 tỷ), và phần lãi ghi nhận từ hai công ty trên báo cáo kết quả kinh doanh chín tháng là 26,7 tỷ (27,8 tỷ trước khi trích quỹ). Thuyết minh không công bố doanh thu hay biên lợi nhuận của hai công ty này, nên bài không đánh giá được mức giá DPG mua. Hai khoản góp vốn này (35,3 tỷ theo mệnh giá) còn được dùng bảo đảm khoản vay VietinBank cho dự án nhà máy kính.
Số dư với hai công ty cuối quý III: phải trả người bán 136,6 tỷ (đầu năm 232,0 tỷ), trả trước cho người bán 89,0 tỷ (đầu năm không có) và phải thu 5,1 tỷ.
Phải thu, trả trước và tồn kho

Phải thu ngắn hạn của khách hàng tăng 24,8% lên 1.150,3 tỷ đồng. Riêng Công ty TNHH Đầu tư phát triển hạ tầng và đô thị Sông Hồng là 518,5 tỷ, bằng 45,1% tổng phải thu, không có số dư đầu năm và chưa lập dự phòng; thuyết minh không nêu hợp đồng nào tạo ra khoản này.
Trả trước cho người bán tăng 33,2% lên 589,7 tỷ, và người mua trả tiền trước tăng 29,6% lên 828,0 tỷ, trong đó Ban QLDA các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai 328,9 tỷ, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Ninh Bình 120,0 tỷ và khách mua bất động sản 136,2 tỷ (đầu năm 52,5 tỷ).
Hàng tồn kho gần như không đổi ở 2.241,1 tỷ, trong đó bất động sản dở dang 2.122,0 tỷ: dự án Cồn Tiến 1.859,4 tỷ và khu phức hợp nghỉ dưỡng Bình Dương 253,8 tỷ. Chi phí phải trả về lãi vay hỗ trợ khách mua bất động sản tăng từ 1,0 lên 86,4 tỷ; tiền lãi vay đã trả trong dòng tiền kinh doanh chín tháng chỉ 44,2 tỷ so với chi phí lãi vay 116,8 tỷ, và thuyết minh không nối hai số này với nhau.
Với dự án Bình Dương, Hội đồng quản trị ngày 01/10/2026 thông qua nội dung đề nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư: tổng vốn từ 4.647,2 xuống 3.000 tỷ (vốn góp 450 tỷ, vốn vay 2.550 tỷ), thủ tục và giải phóng mặt bằng đến quý IV/2027, thời gian xây dựng không quá 60 tháng kể từ khi được giao đất.
Vay nợ và nhà máy kính

Vay và nợ thuê tài chính tăng 1.799,4 tỷ đồng, từ 3.866,3 lên 5.665,8 tỷ: vay ngắn hạn tăng 33,1% lên 3.350,0 tỷ (59,1% tổng vay) và vay dài hạn tăng 71,7% lên 2.315,8 tỷ. Số đầu năm đã được trình bày lại theo Thông tư 99, gồm 78,5 tỷ UPAS L/C.
Vay trên vốn chủ (gồm cổ đông thiểu số) lên 1,50 lần từ 1,32. Vay ròng 4.604,4 tỷ (vay trừ tiền 603,7 tỷ và đầu tư ngắn hạn 457,6 tỷ) bằng 5,3 lần EBITDA bốn quý 870,0 tỷ (lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay và khấu hao), và hệ số trả lãi (lợi nhuận trước thuế cộng lãi vay chia lãi vay) quý III còn 3,9 lần so với 4,3 lần.
Hai ngân hàng chiếm 97,7% dư nợ: VietinBank Nam Thăng Long 3.327,6 tỷ (ngắn hạn 2.279,1 và dài hạn 1.048,5) và BIDV Thăng Long 2.205,8 tỷ; phần còn lại là 132,4 tỷ nợ dài hạn đến hạn không tách theo ngân hàng. Hạn mức 750 tỷ tại BIDV được đảm bảo bằng tài sản của cá nhân là bên liên quan, phí mượn tài sản chín tháng 0,26 tỷ.
Ngày 27/10/2026 Hội đồng quản trị thông qua các hợp đồng mượn bất động sản của tám cá nhân (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Giám đốc, vợ của ba người này, chị gái và anh rể của Chủ tịch) để bảo đảm nghĩa vụ tại BIDV Thăng Long.

Xây dựng dở dang tăng từ 1.138,3 lên 2.470,3 tỷ đồng, trong đó nhà máy kính (Công ty Kính Đạt Phương) tăng thêm 1.294,0 tỷ lên 1.666,0 tỷ, chiếm 67,4%. Công ty này có hạn mức vay 1.540 tỷ, kỳ hạn 168 tháng; theo website công ty, nhà máy có công suất 400 tấn một ngày, đặt tại Huế, với dây chuyền trị giá tới 45 triệu USD.
Các khoản dở dang mới còn gồm khu đô thị Mỹ Thượng (Huế) 253,5 tỷ, nhà máy cát thạch anh 63,3 tỷ và khu đô thị Cồn Tiến thêm 186,3 tỷ. Khu đô thị Võng Nhi giảm từ 487,9 xuống 1,1 tỷ vì 817,1 tỷ đã chuyển sang tài sản cố định (riêng nhà cửa, vật kiến trúc nhận 713,9 tỷ), và khấu hao quý III tăng lên 47,5 tỷ từ 38,2 tỷ quý II.
Bài không có số liệu về thời điểm nhà máy kính chạy thử, giá bán hay đơn hàng, nên không ước tính doanh thu của dự án này. Khi nhà máy chuyển sang tài sản cố định, khấu hao của 1.666,0 tỷ bắt đầu vào giá vốn.
Dòng tiền và nguồn vốn

Dòng tiền kinh doanh âm hai năm liền: âm 287,2 tỷ đồng năm 2024 và âm 780,8 tỷ năm 2025, trong khi lợi nhuận sau thuế hợp nhất lần lượt là 304 và 445 tỷ. Chín tháng 2026 dòng tiền kinh doanh là dương 194,1 tỷ, so với âm 1.127,8 tỷ cùng kỳ, trong khi lợi nhuận trước thuế là 391,1 tỷ.
Chín tháng phải thu tăng 398,0 tỷ và chi phí trả trước tăng 128,9 tỷ, được bù bằng khoản phải trả tăng 234,8 tỷ; hàng tồn kho gần như không đổi. Chi mua sắm, xây dựng tài sản dài hạn là 2.161,4 tỷ, bằng 51,3% doanh thu chín tháng (cùng kỳ 294,5 tỷ), nên dòng tiền kinh doanh trừ chi mua sắm âm 1.967,2 tỷ.

Phần thiếu được bù bằng vay thuần 1.799,4 tỷ (thu 3.400,6 tỷ, trả 1.601,2 tỷ) và phát hành cổ phiếu 655,4 tỷ (gồm 21,2 tỷ cổ đông thiểu số góp vào công ty con). Cổ tức đã trả 130,4 tỷ, và chi gửi tiền có kỳ hạn, mua công cụ nợ 503,8 tỷ, nên tiền và tương đương tiền cuối kỳ còn 603,7 tỷ (đầu năm 711,7 tỷ).
Ngoài ra 229,1 tỷ tiền gửi bị phong toả để bảo đảm tín dụng, bảo lãnh nằm trong tài sản ngắn hạn khác, và không được tính vào tiền ở trên.
Kế hoạch 2026, vốn và cổ tức

Nghị quyết đại hội cổ đông ngày 25/04/2026 giao doanh thu thuần hợp nhất 8.513,6 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 646,3 tỷ và lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 454,7 tỷ; cổ tức dự kiến 5% đến 10%. Chín tháng đạt 49,4% doanh thu, 60,5% lợi nhuận trước thuế và 63,0% lợi nhuận mẹ.
Để hoàn thành kế hoạch, quý IV cần doanh thu 4.303,9 tỷ, nhiều hơn cả chín tháng (4.209,7 tỷ) và gấp 2,3 lần quý cao nhất từ đầu năm (1.858,8 tỷ quý II), cùng lợi nhuận trước thuế 255,2 tỷ (quý III: 139,3 tỷ) và lợi nhuận mẹ 168,1 tỷ (quý III: 110,9 tỷ).
Về vốn, DPG phát hành 17,79 triệu cổ phiếu thu bằng tiền trong quý I/2026, vốn góp tăng 177,9 tỷ và thặng dư tăng 456,4 tỷ, tức bình quân khoảng 35.656 đồng một cổ phiếu (tính từ bảng biến động vốn chủ). Số cổ phiếu từ 100,80 triệu lên 118,59 triệu (tăng 17,6%).
Cổ tức năm 2025 là 6% mệnh giá, 600 đồng một cổ phiếu, ứng với 71,2 tỷ cho cổ đông DPG và 2,1% giá 28.850 đồng. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối hợp nhất là 1.360,0 tỷ cuối quý III.
Cổ đông và thanh khoản

Chủ tịch Hội đồng quản trị Lương Minh Tuấn nắm 16,07 triệu cổ phiếu (13,55%), Phó Chủ tịch Phạm Kim Châu 6,69 triệu (5,64%) và Tổng Giám đốc Trần Anh Tuấn 5,82 triệu (4,91%). Cộng với các người thân đã công bố trong quyết định ngày 27/10/2026 và có tên trong danh sách cổ đông lớn (Trần Thị Thúy Hằng 5,01 triệu, Võ Thị Phương Lâm 1,43 triệu, Lương Thị Lan 0,97 triệu), nhóm này nắm ít nhất 36,0 triệu cổ phiếu, 30,4% vốn.
Quỹ lớn nhất là Vietnam Enterprise Investments với 5,01 triệu cổ phiếu (4,22%). Cổ phiếu tự do chuyển nhượng chiếm 55,0% (65,22 triệu cổ phiếu, trị giá khoảng 1.881,7 tỷ đồng theo giá 28.850). Số liệu cổ đông lấy từ danh sách cập nhật các ngày khác nhau trong năm 2026, tỷ lệ tính trên số cổ phiếu hiện tại.

Giá trị khớp trung bình tháng 10/2026 là 15,3 tỷ đồng mỗi phiên, so với đỉnh 88,1 tỷ tháng 10/2025 và đáy 7,9 tỷ tháng 9/2026. Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 545.915 cổ phiếu, bằng 1,34 lần trung bình 60 phiên (407.158 cổ phiếu).
Giá trị khớp 12 tháng tới 30/10/2026 là 5.551,3 tỷ đồng, gấp 2,95 lần giá trị cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Giá từng giảm 31,6% từ 38.100 đồng (30/06/2026) xuống 26.050 đồng (27/07/2026), phiên 06/07 khớp 1,91 triệu cổ phiếu (bình quân 20 phiên trước đó là 0,30 triệu); số liệu có được không nêu nguyên nhân của nhịp này.
Khối ngoại và tự doanh

Khối ngoại mua ròng 253,4 tỷ đồng quý I/2026, nhiều nhất trong chín quý, trong đó các phiên 15/01 (36,9 tỷ), 20/01 (35,9 tỷ) và 23/01 (17,3 tỷ). Sau đó họ bán ròng 33,1 tỷ quý II, 2,2 tỷ quý III và 0,9 tỷ trong tháng 10; 30 phiên gần nhất mua ròng 1,0 tỷ và 90 phiên gần nhất bán ròng 2,3 tỷ.
Trong 12 tháng tới 30/10/2026 khối ngoại mua 652,1 tỷ và bán 420,1 tỷ, mua ròng 232,0 tỷ, bằng 4,2% giá trị khớp (5.551,3 tỷ); có 126 phiên mua ròng và 121 phiên bán ròng trong 248 phiên. Giao dịch thoả thuận chỉ 13,2 tỷ trong tổng 1.072,2 tỷ giá trị mua bán của khối ngoại.

Luỹ kế mua ròng đạt đỉnh 285,1 tỷ ngày 24/02/2026, khi giá đóng cửa 44.920 đồng, rồi giảm về 232,0 tỷ trong khi giá giảm 34,6% từ 44.080 đồng (30/10/2025) xuống 28.850 đồng. Khối ngoại đang nắm khoảng 18,4% vốn, giới hạn tối đa 49%, nên còn room 36,15 triệu cổ phiếu (30,5% vốn).
Tự doanh có dữ liệu đến 30/10/2026 nhưng rất nhỏ: 12 tháng bán ròng 1,9 tỷ đồng trong 50 phiên có giao dịch, và quý IV/2026 tính đến 30/10 bán ròng 0,5 tỷ. Bài không nhận định thêm về tự doanh.
So sánh cùng ngành

Không có công ty niêm yết nào khác có cùng cơ cấu xây lắp, thuỷ điện, bất động sản và kính như DPG, nên nhóm so sánh gồm bảy mã theo BCTC quý III/2026: PC1 (xây lắp và năng lượng), VCG, LCG, CTI và CTR (xây lắp, hạ tầng), C4G (xây lắp, UPCoM) và VSH (thuỷ điện). TV2 bị loại vì là công ty tư vấn có EV âm, và không có mã nào là công ty mẹ hay công ty con của DPG.
Cổ phiếu DPG có P/E 8,17 lần, thấp hơn trung vị 9,21 lần, nhưng P/B 1,12 lần cao hơn trung vị 0,88 lần và EV/EBITDA 10,0 lần so với 5,1 lần. Vay trên vốn chủ cổ đông mẹ 1,85 lần so với trung vị 0,72 lần, còn ROE 16,2% cao hơn 10,1%.
Lợi nhuận mẹ quý III của DPG tăng 53,8% trong khi trung vị nhóm giảm 14,3%, và biên gộp bốn quý 12,7% gần bằng trung vị 12,1%. Hai chỉ số P/E và EV/EBITDA đi ngược chiều nhau vì vốn hoá chỉ là phần nhỏ hơn của giá trị doanh nghiệp: vay ròng 4.604 tỷ bằng 1,35 lần vốn hoá 3.421 tỷ.

Trong nhóm, mã có ROE trên 16% là CTR (30,3%), PC1 (17,2%), VSH (17,2%) và DPG (16,2%). Với P/B 1,12 lần, DPG đắt hơn PC1 (1,10 lần), mã gần nhất về mô hình, nhưng rẻ hơn VSH (2,02 lần) và CTR (3,83 lần).
Định giá theo P/E, P/B và DCF
EPS bốn quý là 3.530 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (418,7 tỷ) chia 118,59 triệu cổ phiếu. BVPS là 25.863 đồng, bằng vốn chủ cổ đông công ty mẹ chia số cổ phiếu.
Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Với DCF năm năm trên số hợp nhất, doanh thu bốn quý là 5.848 tỷ đồng và tăng 0%, 5% hoặc 10% mỗi năm, biên EBIT 9,0%, 10,5% hoặc 11,6% (quý III là 9,1%, bốn quý 11,6%, không gồm thu nhập tài chính), thuế 15,0%, khấu hao 2,7% doanh thu, chi đầu tư 6% doanh thu (trung bình 2019 đến 2024: 6,4%), vốn lưu động 10% phần doanh thu tăng thêm, WACC 12%.
Giá trị vốn chủ hợp nhất bằng giá trị doanh nghiệp trừ vay ròng 4.604 tỷ đồng, rồi phần thuộc cổ đông DPG lấy 83,0%, bằng lợi nhuận mẹ trên lợi nhuận hợp nhất bốn quý. Vì DCF trên lợi nhuận hiện tại không đo được giá trị của xây dựng dở dang và bất động sản chưa bán, bảng định giá có thêm các dòng cộng 4.647 tỷ theo giá sổ.

Mười hai phép cho giá trị từ âm đến 43.271 đồng, bảy phép thấp hơn giá 28.850 đồng và năm phép cao hơn. P/E trung vị nhóm cho 32.523 đồng, cao hơn giá 12,7%, còn P/B trung vị cho 22.841 đồng, thấp hơn giá 20,8%.
P/B hợp lý theo ROE 16% cho 37.357 đồng. Muốn giá 28.850 đồng là hợp lý theo P/B, ROE bền vững cần khoảng 13,0%, so với 16,2% hiện tại, trong khi vốn chủ đã tăng thêm 634,2 tỷ nhờ phát hành cổ phiếu, nên ROE các quý tới sẽ tính trên vốn lớn hơn.
DCF kịch bản cơ sở chỉ tính hoạt động hiện có cho giá trị doanh nghiệp 3.741 tỷ đồng, thấp hơn vay ròng 4.604 tỷ, nên giá trị vốn chủ là âm. Cộng 4.647 tỷ tài sản chưa vận hành theo giá sổ (xây dựng dở dang 2.470 tỷ, hàng tồn kho bất động sản 2.177 tỷ) thì được 26.498 đồng, thấp hơn giá 8,2%; kịch bản thấp cho 18.289 và kịch bản cao cho 35.468 đồng.
Chênh lệch 32.541 đồng mỗi cổ phiếu giữa hai cách tính chính là phần của cổ đông DPG trong 4.647 tỷ đó. Giá thị trường vì vậy phụ thuộc vào việc nhà máy kính và các dự án bất động sản có tạo được dòng tiền tương xứng giá sổ hay không.

DCF cơ sở cộng tài sản chưa vận hành cho 26.498 đồng, và trong mười lăm ô của lưới độ nhạy, từ 20.473 đến 38.452 đồng, sáu ô cao hơn giá. Chi đầu tư 6% doanh thu là giả định nhạy: chín tháng 2025 là 10,4% và chín tháng 2026 là 51,3%.
Thang giá tham chiếu

Thang giá xếp các phép dương theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 47.080 đồng (26/02/2026), đáy đóng cửa 52 tuần 25.900 đồng (02/10/2026) và giá trị sổ sách 25.863 đồng.
Giá 28.850 đồng nằm giữa phép P/E tứ phân vị dưới nhóm (27.651 đồng, thấp hơn giá 4,2%) và P/E trung vị (32.523 đồng, cao hơn 12,7%). Giá cao hơn đáy 52 tuần 11,4% và thấp hơn đỉnh 52 tuần 38,7%.
Phân tích kỹ thuật
Biểu đồ tuần của cổ phiếu DPG đã giảm từ vùng 47.000 đồng tháng 02/2026 và đang hồi lên từ đáy 25.900 đồng: giá 28.850 đồng thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần 38,7%. Từ đầu năm DPG giảm 21,9% trong khi VN-Index giảm 2,4%, và 250 phiên giảm 32,4% so với VN-Index tăng 3,6%, nhưng 20 phiên gần nhất tăng 11,4% so với VN-Index tăng 0,2%.
Hỗ trợ - Kháng cự

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 09/2022. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần).
Vùng giá (đồng) | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
37.840 tới 38.090 | Kháng cự xa | Hai đỉnh tuần 14/06/2024 (38.090) và 19/07/2024 (37.840), trùng hai đáy tuần 27/03/2026 và 22/05/2026 (37.920); cao hơn giá 31,2% đến 32,0% |
32.130 tới 32.690 | Kháng cự gần | Ba đỉnh tuần 12/04/2024 (32.130), 06/12/2024 (32.510) và 04/04/2025 (32.690); cao hơn giá 11,4% đến 13,3% |
25.500 tới 25.700 | Hỗ trợ gần | Đáy tuần 10/01/2025 (25.620), 11/04/2025 (25.590), 24/07/2026 và 31/07/2026 (25.500), 09/10/2026 (25.700); thấp hơn giá 10,9% đến 11,6% |
22.170 tới 22.530 | Hỗ trợ kế tiếp | Đáy tuần 25/08/2023 (22.170) và 19/01/2024 (22.530); thấp hơn giá 21,9% đến 23,2% |
Giá đang nằm giữa hỗ trợ 25.500 đến 25.700 đồng và kháng cự 32.130 đến 32.690 đồng. Đường xu hướng tăng nối đáy tuần 23/12/2022 (14.300 đồng), 24/03/2023 (15.170 đồng) và 24/07/2026 (25.500 đồng) đi qua khoảng 26.348 đồng, thấp hơn giá 8,7%, và nằm ngay trên vùng hỗ trợ 25.500 đến 25.700 đồng. Nếu giá đóng cửa tuần dưới cả đường này và vùng 25.500, mốc kế tiếp phía dưới là vùng 22.170 đến 22.530 đồng.
Phía trên, đường xu hướng giảm nối đỉnh tuần 22/08/2025 (50.730 đồng), 17/10/2025 (49.640 đồng) và 27/02/2026 (48.310 đồng) đi qua khoảng 45.052 đồng, cao hơn giá 56,2%. Đỉnh 52 tuần (đóng cửa) là 47.080 đồng ngày 26/02/2026 và đáy 52 tuần (đóng cửa) là 25.900 đồng ngày 02/10/2026; đỉnh chu kỳ từ 09/2022 (đóng cửa) là 50.730 đồng ngày 19/08/2025 và đáy chu kỳ (đóng cửa) là 10.710 đồng ngày 15/11/2022.
Fibonacci

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp tăng từ đáy 25.590 đồng ngày 09/04/2025 lên đỉnh 50.730 đồng ngày 19/08/2025, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đỉnh xuống là 23,6% (44.797 đồng), 38,2% (41.127 đồng), 50% (38.160 đồng), 61,8% (35.193 đồng) và 78,6% (30.970 đồng).
Giá 28.850 đồng đã hồi 87,0% nhịp tăng, nằm dưới mức 78,6% (thấp hơn mức này 6,8%) và trên đáy nhịp tăng 12,7%. Mức 50% nằm sát vùng kháng cự xa 37.840 đến 38.090 đồng, còn mức 78,6% nằm dưới vùng kháng cự gần 32.130 đến 32.690 đồng.
Xu hướng EMA

Giá 28.850 đồng sát EMA10 tuần (28.785) và dưới bốn đường còn lại: EMA20 ở 30.656, EMA50 ở 34.519, EMA100 ở 35.030 và EMA200 ở 32.182 đồng. Giá thấp hơn EMA20 5,9%, EMA50 16,4%, EMA100 17,6% và EMA200 10,4%.
EMA20 tuần cắt xuống EMA50 ngày 10/07/2026, và cả EMA50 lẫn EMA100 đang dốc xuống. Nhịp hồi 11,4% trong 20 phiên mới đưa giá lên sát EMA10; giá chưa vượt được EMA20, nên xu hướng giảm từ đầu năm chưa đảo chiều.
RSI và động lượng

RSI(14) tuần ở 41,6, thấp hơn mức 50 và đã thoát vùng quá bán (dưới 30). RSI tuần xuống 28,7 ngày 02/10/2026 rồi cắt lên 30 ở tuần 09/10/2026 (32,5), đạt 46,1 tuần 23/10 và hiện 41,6. Đỉnh sáu tháng gần đây của RSI tuần là 50,9 ngày 08/05/2026.

MACD tuần cắt lên đường tín hiệu ngày 23/10/2026 và hiện ở âm 2.711, trên tín hiệu âm 3.082, histogram dương 371. Động lượng giảm đã chậm lại, nhưng đường MACD vẫn ở sâu dưới mức 0 và lần cắt xuống gần nhất là ngày 15/05/2026.
Lịch sự kiện cần theo dõi
Thời điểm | Sự kiện | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
Các tuần tới | Giá đóng cửa tuần so với 25.500 đến 25.700 đồng, đường xu hướng tăng 26.348 đồng và 32.130 đến 32.690 đồng | Giá đang nằm giữa hai vùng này |
Cuối quý IV/2026 | Doanh thu và lợi nhuận quý IV | Kế hoạch cần doanh thu 4.303,9 tỷ và lợi nhuận mẹ 168,1 tỷ trong quý |
Tháng 01/2027 | Kết quả quý IV/2026 và cả năm | So với kế hoạch doanh thu 8.513,6 tỷ và lợi nhuận mẹ 454,7 tỷ |
Các quý tới | Nhà máy kính chuyển từ xây dựng dở dang sang tài sản cố định | 1.666,0 tỷ dở dang bắt đầu tính khấu hao và lãi vay vào chi phí |
Các quý tới | Phải thu Công ty Sông Hồng và giá trị mua từ hai công ty liên kết | 518,5 tỷ chưa dự phòng; 1.635,0 tỷ mua khối lượng xây lắp chín tháng |
Đến quý IV/2027 | Thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng dự án Bình Dương | 253,8 tỷ trong hàng tồn kho; tổng vốn dự kiến điều chỉnh từ 4.647,2 xuống 3.000 tỷ |
Quý II/2027 | Đại hội cổ đông thường niên | Kế hoạch 2027 và cổ tức khi vay đã ở mức 5.665,8 tỷ |
Kết luận
Cổ phiếu DPG ghi nhận lợi nhuận mẹ quý III/2026 tăng mạnh, nhưng một phần đáng kể của mức tăng đến từ phần lỗ của cổ đông thiểu số và từ xây lắp biên mỏng thay cho mảng điện biên cao. Gần một nửa giá vốn xây lắp tương ứng với giá trị mua từ hai công ty liên kết mà DPG nắm 49%, và khoản phải thu lớn nhất chưa có số dư đầu năm hay dự phòng.
Điểm yếu nằm ở bảng cân đối: vay tăng 1.799,4 tỷ chỉ trong chín tháng, vay ròng gấp 5,3 lần EBITDA, trong khi nhà máy kính và các dự án bất động sản chưa tạo doanh thu tương xứng. Về giá, P/E 8,17 lần thấp hơn trung vị nhưng EV/EBITDA gấp đôi trung vị, và giá nằm giữa các phép định giá. Về kỹ thuật, giá ở giữa vùng hỗ trợ 25.500 đến 25.700 đồng và kháng cự 32.130 đến 32.690 đồng.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.