Phân tích cổ phiếu VHC Quý 4/2026: Lãi ròng quý III giảm 51% so với cùng kỳ

Triều Tô22 phút đọc
Nội dung bài15 phần
  1. Định giá cổ phiếu VHC: quy mô
  2. Lợi nhuận quý III đến từ đâu
  3. Thuế Mỹ và doanh thu theo tháng
  4. Kế hoạch năm còn xa
  5. Dòng tiền và đầu tư tài sản
  6. Nợ vay và cổ phiếu quỹ
  7. Khối ngoại và tự doanh
  8. So sánh cùng ngành
  9. Định giá theo P/E, P/B và DCF
  10. Thang giá tham chiếu
  11. Phân tích kỹ thuật
  12. Hỗ trợ - Kháng cự
  13. Fibonacci
  14. Xu hướng EMA
  15. RSI và động lượng
  16. Kế hoạch tham khảo
  17. Cổ tức
  18. Lịch sự kiện cần theo dõi
  19. Kết luận

Định giá cổ phiếu VHC Quý 4/2026 bắt đầu từ một con số: lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ quý III chỉ còn 213 tỷ đồng, giảm 50,8% so với cùng kỳ trong khi doanh thu thuần chỉ giảm 4,4%. Đây là mức thấp nhất kể từ quý I/2025 và thấp hơn quý II/2026 55,2%.

Hai khoản giải thích 92% mức giảm lợi nhuận trước thuế. Lãi gộp giảm 104 tỷ đồng vì biên gộp xuống 14,5%, và tài chính ròng đảo chiều 141 tỷ đồng, từ lãi 94 tỷ sang lỗ 47 tỷ.

Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 50.300 đồng, thấp hơn đỉnh đóng cửa 52 tuần (69.200 đồng) 27,3% và cao hơn đáy đóng cửa 52 tuần (48.250 đồng) 4,2%. Bài tách từng khoản làm lợi nhuận giảm, đọc thuế Mỹ qua doanh thu theo tháng, kiểm kế hoạch năm, dòng tiền, nợ vay và khối ngoại, rồi đến so sánh cùng ngành, định giá và đồ thị tuần.

Điểm chính

  • Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ quý III/2026 là 213 tỷ đồng, giảm 50,8% so với cùng kỳ (433 tỷ) và 55,2% so với quý II (475 tỷ); chín tháng đạt 954 tỷ, giảm 16,3% và bằng 59,7% kế hoạch cả năm 1.600 tỷ.
  • Biên gộp quý III là 14,5% so với 16,8% cùng kỳ, làm mất 78 tỷ lãi gộp; chi phí tài chính tăng từ 22 lên 81 tỷ và thu nhập tài chính giảm từ 116 xuống 34 tỷ.
  • Chín tháng lãi gộp vẫn tăng 3,8% với biên 16,7% như năm trước; toàn bộ mức giảm lợi nhuận trước thuế 219 tỷ đến từ tài chính ròng, từ lãi 235 tỷ xuống lãi 18 tỷ.
  • Vay tăng 1.123 tỷ lên 3.169 tỷ; tiền thuần còn 759 tỷ từ 2.340 tỷ cuối 2025, sau khi chi 930 tỷ mua 15 triệu cổ phiếu quỹ giá bình quân 61.988 đồng và 730 tỷ mua sắm tài sản cố định.
  • Khối ngoại bán ròng 363 tỷ đồng trong 12 tháng, tỷ lệ sở hữu giảm từ 29,7% xuống 17,5%; cổ phiếu VHC có P/E 8,55 lần, P/B 1,10 lần và tám trong mười hai phép định giá thấp hơn giá 50.300 đồng.
Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu VHC theo quý từ quý I/2025 đến quý III/2026

Định giá cổ phiếu VHC: quy mô

Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn (VHC) niêm yết trên HOSE với 209,45 triệu cổ phiếu lưu hành sau khi huỷ 15 triệu cổ phiếu quỹ, và vốn hoá theo giá 50.300 đồng là 10.536 tỷ đồng. Nhà đầu tư nước ngoài nắm 17,50% vốn và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng là 40,0% theo hồ sơ công ty.

Quý III/2026 doanh thu thuần 3.317 tỷ đồng, giảm 4,4% so với cùng kỳ và giảm 2,3% so với quý II (3.394 tỷ). Chín tháng doanh thu đạt 9.665 tỷ, tăng 3,8% và bằng 69,0% chỉ tiêu 14.000 tỷ của năm 2026.

Báo cáo bán hàng tháng cho thấy cá tra chiếm khoảng 52% doanh thu ba tháng quý III (1.719 trong 3.285 tỷ đồng), còn thị trường Mỹ chiếm khoảng một phần tư (856 tỷ). Công ty không công bố sản lượng và giá bán bình quân trên mỗi kg, nên bài không tách được hiệu ứng giá và hiệu ứng lượng.

Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ của cổ phiếu VHC theo năm từ 2019 đến chín tháng 2026

Lợi nhuận đã đi lùi từ đỉnh 2022. Lợi nhuận cổ đông mẹ là 1.975 tỷ đồng năm 2022, rồi 919 tỷ năm 2023, 1.226 tỷ năm 2024 và 1.418 tỷ năm 2025, còn chín tháng 2026 là 954 tỷ. EPS bốn quý hiện là 5.882 đồng và ROE bốn quý là 12,7%, so với 15,5% của năm 2025, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ 9.602 tỷ cuối quý III.

Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Biên lãi gộp và biên lợi nhuận hoạt động của cổ phiếu VHC theo quý

Biên lãi gộp quý III/2026 là 14,5%, so với 16,8% cùng kỳ và 20,7% của quý II, thấp nhất sáu quý. Biên lợi nhuận hoạt động, tính bằng lãi gộp trừ chi phí bán hàng và quản lý, là 9,3%, so với 12,6% cùng kỳ.

Giá vốn quý III là 2.837 tỷ đồng, chỉ giảm 1,7% trong khi doanh thu giảm 4,4%. Chi phí bán hàng và quản lý thêm 26 tỷ (172,6 tỷ so với 146,3 tỷ), trong đó chi phí quản lý tăng 30,1%.

Cầu nối lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu VHC từ quý III/2025 sang quý III/2026

Cầu nối cùng kỳ tách mức giảm 220 tỷ đồng của lợi nhuận cổ đông mẹ (từ 433 tỷ xuống 213 tỷ). Lãi gộp trừ 104 tỷ, bán hàng và quản lý trừ 26 tỷ, thu nhập tài chính trừ 82 tỷ và chi phí tài chính trừ 59 tỷ, trong khi thuế thấp hơn cộng 39 tỷ và thiểu số giảm cộng 6 tỷ.

Tính trên lợi nhuận trước thuế (giảm 265,5 tỷ, từ 534,7 tỷ xuống 269,2 tỷ), lãi gộp chiếm 39% mức giảm và tài chính ròng chiếm 53%. Thuế suất hiệu dụng gần như không đổi, 14,8% ở cả hai quý.

Phân rã lãi gộp quý III/2025 sang quý III/2026 của cổ phiếu VHC theo hiệu ứng doanh thu và hiệu ứng biên

Phân rã lãi gộp cho thấy biên là nguyên nhân chính. Doanh thu giảm 154 tỷ đồng với biên cũ 16,8% làm mất 26 tỷ lãi gộp, còn biên giảm xuống 14,5% trên doanh thu mới làm mất 78 tỷ.

Thu nhập tài chính, chi phí tài chính và tài chính ròng của cổ phiếu VHC theo quý

Tài chính ròng là khoản đổi chiều mạnh nhất. Chi phí tài chính quý III là 80,8 tỷ đồng, gấp 3,7 lần quý III/2025 (22,0 tỷ), trong đó chi phí lãi vay 36,8 tỷ so với 10,9 tỷ. Phần còn lại 44,0 tỷ là các khoản ngoài lãi vay.

Thu nhập tài chính giảm từ 116,2 tỷ xuống 34,0 tỷ. Theo lưu chuyển tiền tệ, lãi từ hoạt động đầu tư gần như đi ngang (40,2 tỷ so với 34,3 tỷ) và lỗ tỷ giá chưa thực hiện là 27,7 tỷ so với 6,8 tỷ, nên phần thu nhập mất đi nằm ngoài lãi tiền gửi và cổ tức. Dữ liệu bài không có thuyết minh để tách lãi tỷ giá đã thực hiện và dự phòng đầu tư, nên mục này chưa chia nhỏ hơn được.

Cầu nối lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu VHC từ quý II/2026 sang quý III/2026

So với quý II, mức giảm 262 tỷ đồng của lợi nhuận cổ đông mẹ phần lớn là lãi gộp trừ 224 tỷ, khi biên quay từ 20,7% về 14,5%. Chín tháng, biên gộp là 16,7%, bằng đúng 16,7% của cùng kỳ 2025, nên biên quý III thấp nhưng quý II cao kéo mặt bằng chín tháng về cân bằng.

Cả chín tháng, lãi gộp tăng 59 tỷ đồng (3,8%) và chi phí bán hàng cùng quản lý thêm 54 tỷ. Tài chính ròng giảm 217 tỷ, từ lãi 235 tỷ xuống lãi 18 tỷ, gần bằng toàn bộ mức giảm 219 tỷ của lợi nhuận trước thuế (từ 1.399 tỷ xuống 1.180 tỷ). Mức giảm 16,3% của lợi nhuận chín tháng vì thế chủ yếu đến từ tài chính, không đến từ việc bán cá.

Thuế Mỹ và doanh thu theo tháng

Tăng giảm doanh thu theo tháng so với cùng kỳ của VHC: tổng doanh thu, thị trường Mỹ và cá tra, tháng 7 đến tháng 9/2026

Từ 24/07/2026, hàng Việt Nam vào Mỹ chịu thêm thuế 12,5% theo kết luận cuối cùng của cuộc điều tra Mục 301, cộng vào thuế suất sẵn có. Theo báo chí, Ecuador, Ấn Độ và Indonesia, các đối thủ cá thịt trắng, chỉ chịu 10%. Hàng xếp lên tàu trước 24/07 và nhập khẩu trước 28/07 được miễn.

Vĩnh Hoàn đã ra khỏi lệnh thuế chống bán phá giá. Thông báo của Bộ Thương mại Mỹ đăng Công báo Liên bang ngày 24/01/2025 loại hàng do công ty sản xuất và xuất khẩu khỏi lệnh này từ 01/08/2021. Vì vậy thuế Mục 301 là lớp thuế mới, không chồng lên thuế chống bán phá giá của chính công ty.

Doanh thu theo tháng cho thấy phản ứng. Doanh thu Mỹ giảm 36% tháng 7 (323 tỷ đồng), giảm 15% tháng 8 (231 tỷ), rồi tăng 22% tháng 9 (302 tỷ). Ba tháng cộng lại là 856 tỷ, thấp hơn khoảng 16% cùng kỳ tính theo các tỷ lệ công bố.

Doanh thu cá tra ba tháng là 1.719 tỷ đồng, chỉ thấp hơn khoảng 2% cùng kỳ, nhẹ hơn mức giảm của Mỹ vì các thị trường khác bù một phần: châu Âu tăng 19% tháng 7 và 41% tháng 9, Trung Quốc tăng 80% và 56% ở tháng 7 và 8 nhưng giảm 82% ở tháng 9 (14 tỷ). Doanh thu tổng tháng 9 tăng 13%, mức cao nhất trong ba tháng.

Công ty không công bố phần biên gộp mất đi do thuế Mục 301 riêng, và số theo tháng là báo cáo bán hàng, không trùng với BCTC (cộng ba tháng ra 3.285 tỷ so với 3.317 tỷ). Bài vì thế chỉ đặt hai dữ kiện cạnh nhau: thuế có hiệu lực giữa quý III và biên gộp quý III xuống 14,5%. Quý IV sẽ là quý đầu tiên có đủ ba tháng thuế.

Kế hoạch năm còn xa

LNST cổ đông mẹ theo quý của cổ phiếu VHC và mức cần đạt ở quý IV/2026 để đủ kế hoạch 1.600 tỷ đồng

Kế hoạch 2026 gồm doanh thu 14.000 tỷ đồng (tăng 16%) và lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 1.600 tỷ (tăng 13%). Chín tháng đạt 954 tỷ, tức 59,7%, nên quý IV cần 646 tỷ đồng, gấp 3,0 lần quý III và 2,3 lần quý IV/2025 (277 tỷ).

Quý cao nhất trong bảy quý gần đây là 515 tỷ (quý II/2025), và quý II/2026 là 475 tỷ. Nếu quý IV bằng quý IV/2025, cả năm đạt 1.232 tỷ, tức 77% kế hoạch.

Phần doanh thu dễ hơn: quý IV cần 4.335 tỷ đồng, gấp 1,31 lần quý III. Khoảng cách nằm ở lợi nhuận, không nằm ở doanh thu.

Dòng tiền và đầu tư tài sản

Dòng tiền kinh doanh và chi mua sắm tài sản cố định của cổ phiếu VHC theo quý

Dòng tiền kinh doanh chín tháng 2026 chỉ 47 tỷ đồng, so với 1.982 tỷ cùng kỳ. Quý I/2026 âm 389 tỷ vì phải thu tăng 578 tỷ và công ty nộp 229 tỷ thuế, và quý III chỉ còn 55 tỷ khi khoản phải trả giảm 267 tỷ.

Chi mua sắm tài sản cố định chín tháng là 730 tỷ đồng, so với 206 tỷ cùng kỳ, và đã bằng 48% kế hoạch đầu tư cả năm 1.520 tỷ. Dòng tiền kinh doanh trừ chi mua sắm vì vậy âm 683 tỷ.

Phải thu ngắn hạn cuối quý III là 2.624 tỷ đồng, tăng 32,2% so với 1.985 tỷ cuối 2025. Số ngày phải thu tính theo doanh thu bốn quý tăng từ 60 lên 77 ngày. Bài không bàn về hàng tồn kho vì các dòng tài sản ngắn hạn trong dữ liệu BCTC thiếu khoảng 1.100 tỷ đồng so với tổng ở quý II và quý III, nên số tồn kho không so sánh được với đầu năm.

Nợ vay và cổ phiếu quỹ

Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn, vay và tiền thuần của cổ phiếu VHC theo quý

Vay và nợ thuê tài chính cuối quý III là 3.169 tỷ đồng, tăng 1.123 tỷ (54,9%) so với đầu năm, trong đó vay ngắn hạn 2.863 tỷ và vay dài hạn 306 tỷ. Vay bằng 0,33 lần vốn chủ cổ đông mẹ, vẫn thấp nhất trong nhóm so sánh.

Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn là 3.928 tỷ đồng, nên tiền thuần còn 759 tỷ, so với 2.340 tỷ cuối 2025. Khoản chênh 1.581 tỷ chủ yếu là 930 tỷ mua cổ phiếu quỹ và 730 tỷ mua sắm tài sản cố định, trong khi dòng tiền kinh doanh chỉ 47 tỷ.

Chi phí lãi vay chín tháng là 81,8 tỷ đồng, gấp 1,9 lần cùng kỳ (42,2 tỷ), và quý III đã là 36,8 tỷ. Vay còn tăng thêm 699 tỷ ròng trong chính quý III (vay mới 3.361 tỷ, trả 2.661 tỷ).

Giá đóng cửa cổ phiếu VHC từ đầu 2026, đợt mua lại 15 triệu cổ phiếu và giá mua bình quân 61.988 đồng

Công ty mua 15 triệu cổ phiếu quỹ từ 20/04 đến 15/05/2026, tương đương 6,7% số cổ phiếu lưu hành, với giá bình quân 61.988 đồng theo báo chí. Dòng tiền chi 930,5 tỷ đồng, và vốn điều lệ giảm từ 2.244,5 tỷ xuống 2.094,5 tỷ khi số cổ phiếu được huỷ.

Giá đóng cửa 50.300 đồng hiện thấp hơn giá mua lại bình quân 18,9%. Việc huỷ cổ phiếu nâng EPS 7,2% trên cùng lợi nhuận, nhưng khoản 930 tỷ đã rời quỹ trước khi công ty phải vay thêm 1.123 tỷ trong chín tháng.

Khối ngoại và tự doanh

Mua bán ròng theo quý của khối ngoại và tự doanh với cổ phiếu VHC từ quý IV/2024 đến quý IV/2026

Khối ngoại bán ròng trong tám trong chín quý từ quý IV/2024, tổng 1.807 tỷ đồng. Quý duy nhất mua ròng là quý I/2026 (89 tỷ), đúng quý giá đóng cửa lập đỉnh 69.200 đồng ngày 02/02/2026. Dữ liệu khối ngoại tới hết phiên 30/10/2026.

Các quý còn lại là bán ròng 538 tỷ (quý I/2025), 307 tỷ (quý II/2026), 272 tỷ (quý IV/2024), 266 tỷ (quý III/2025), 250 tỷ (quý II/2025), 154 tỷ (quý III/2026) và 104 tỷ (quý IV/2025). Quý IV/2026 mới có 22 phiên, bán ròng 5 tỷ.

Luỹ kế mua bán ròng của khối ngoại và giá đóng cửa cổ phiếu VHC từ 30/10/2025 đến 30/10/2026

Trong 12 tháng tới 30/10/2026, khối ngoại bán ròng 363 tỷ đồng, bằng 11,9% tổng giá trị mua và bán của họ và 3,4% vốn hoá. Luỹ kế đạt đỉnh mua ròng 258 tỷ ngày 04/02/2026 rồi rơi xuống đáy âm 368 tỷ ngày 07/10/2026, tức bán ròng 625 tỷ trong lúc giá đóng cửa giảm từ 69.200 xuống 48.250 đồng (29/09/2026).

Trong 90 phiên gần nhất (từ 24/06/2026) khối ngoại bán ròng 180 tỷ đồng, và trong 30 phiên (từ 21/09/2026) bán ròng 25 tỷ. Tốc độ bán đã chậm lại: từ 07/10 luỹ kế gần như đi ngang, trong vùng âm 353 đến âm 368 tỷ.

Tỷ lệ sở hữu của khối ngoại với cổ phiếu VHC từ 10/2024 đến 30/10/2026

Tỷ lệ sở hữu của khối ngoại là 17,49% ngày 30/10/2026, so với 29,7% ngày 01/10/2024. Mức thấp nhất là 17,43% ngày 07/10/2026. Room còn lại 172,83 triệu cổ phiếu, bằng 82,5% số cổ phiếu lưu hành, và tổng room bằng toàn bộ số cổ phiếu nên khối ngoại không bị giới hạn ở mức sở hữu hiện tại.

Việc huỷ 15 triệu cổ phiếu quỹ tháng 05/2026 nâng tỷ lệ này từ 18,3% lên 19,5% mà khối ngoại không mua thêm. Nếu loại tác động đó, mức giảm trong năm 2026 còn lớn hơn số trên biểu đồ.

Giao dịch thoả thuận không đáng kể. Trong 12 tháng, khối ngoại mua thoả thuận 90 tỷ và bán 87 tỷ, chỉ chiếm khoảng 6% tổng giá trị giao dịch, nên số bán ròng gần như hoàn toàn đến từ khớp lệnh. Riêng quý III/2025 thoả thuận mua 120 tỷ và bán 112 tỷ, làm bán ròng toàn bộ nhẹ hơn khớp lệnh 7,5 tỷ.

Tự doanh (các công ty chứng khoán) nhỏ hơn nhiều, và dữ liệu chỉ có tới hết phiên 20/10/2026 nên bài không nêu số sau mốc này. Từ quý IV/2024, tự doanh bán ròng 86 tỷ đồng, trong đó bán ròng 59 tỷ quý III/2025 và 26 tỷ quý III/2026, còn mua ròng 27 tỷ quý II/2026. Số liệu tự doanh có ở 341 trong 519 phiên.

So sánh cùng ngành

Bảng so sánh cổ phiếu VHC với năm mã thuỷ sản về P/E, P/B, ROE, EV/EBITDA và đòn bẩy

Nhóm so sánh gồm năm doanh nghiệp thuỷ sản: ANV (cá tra), IDI (cá tra và thức ăn), FMC (tôm), CMX (cá tra, tôm) và ACL (cá tra, tôm). Trung vị tính trên năm mã, bốn quý tới quý II/2026, không gồm VHC.

MPC bị loại vì BCTC mới tới quý I/2026, còn ABT và AAM quá nhỏ. Cả năm mã đều có vốn hoá nhỏ hơn VHC (từ 474 đến 4.260 tỷ đồng), nên so sánh chỉ để tham khảo.

Cổ phiếu VHC có P/E 8,55 lần cao hơn trung vị 6,76 lần khoảng 27%, còn P/B 1,10 lần cao hơn trung vị 0,67 lần khoảng 63%. ROE 12,7% gấp 2,2 lần trung vị 5,7%, biên gộp bốn quý 17,0% so với 14,4%, và vay trên vốn chủ 0,33 lần là thấp nhất nhóm.

Biểu đồ P/B theo ROE của cổ phiếu VHC và năm mã so sánh

Cổ phiếu VHC đứng cùng phía với ANV về P/B (1,10 và 1,10 lần) nhưng ROE của ANV (24,3%) cao gần gấp đôi. FMC có P/B 1,01 lần và ROE 19,6%. Ba mã còn lại có P/B từ 0,37 đến 0,67 lần và ROE từ 4,8% đến 5,7%, nên mức P/B trung vị của nhóm bị kéo xuống bởi các mã lợi nhuận thấp.

Định giá theo P/E, P/B và DCF

Lợi nhuận VHC dao động theo biên gộp và tài chính nên bài dùng cả P/E, P/B, P/B hợp lý theo ROE và DCF. EPS bốn quý là 5.882 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (1.232 tỷ) chia 209,45 triệu cổ phiếu. BVPS là 45.842 đồng, bằng vốn chủ cổ đông mẹ chia số cổ phiếu.

P/B hợp lý=ROE−gr−g\text{P/B hợp lý} = \dfrac{\text{ROE} - g}{r - g}

Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Với DCF năm năm, doanh thu bốn quý là 12.375 tỷ đồng và tăng 0%, 5% hoặc 8% mỗi năm, biên EBIT 9,0%, 11,0% hoặc 12,5% (bốn quý gần nhất là 12,0%, quý III là 9,3%), thuế 15%, khấu hao 4,0% và chi đầu tư 5,0% doanh thu, vốn lưu động 15% phần doanh thu tăng thêm, WACC 11%.

Phần giá trị doanh nghiệp thuộc cổ đông mẹ lấy 93,8%, rồi cộng tiền thuần 759 tỷ đồng (tiền và đầu tư ngắn hạn trừ vay).

Bảng mười hai phép định giá VHC theo P/E nhóm, P/B nhóm, P/B hợp lý theo ROE và DCF

Mười hai phép cho giá trị từ 17.516 đến 78.319 đồng. Tám phép thấp hơn giá 50.300 đồng, và bốn phép cao hơn. P/B trung vị nhóm cho 30.922 đồng, thấp hơn giá 38,5%, còn P/E trung vị nhóm cho 39.732 đồng, thấp hơn giá 21,0%.

DCF cho 45.391 đồng ở kịch bản thấp (thấp hơn giá 9,8%), 62.836 đồng ở kịch bản cơ sở (cao hơn giá 24,9%) và 78.319 đồng ở kịch bản cao. Muốn giá 50.300 đồng là hợp lý theo P/B, ROE bền vững cần khoảng 12,9%, so với 12,7% bốn quý và 15,5% của năm 2025.

Lưới độ nhạy DCF kịch bản cơ sở của VHC theo WACC và tăng trưởng dài hạn

Trong lưới độ nhạy, mười bốn trong mười lăm ô, từ 50.869 đến 95.546 đồng, cao hơn giá. Chỉ ô WACC 13% với g 2% (47.859 đồng) thấp hơn giá. Kết quả này phụ thuộc vào giả định biên EBIT 11,0%, cao hơn mức 9,3% của quý III, nên kịch bản thấp (45.391 đồng) mới là phép phản ánh biên quý III kéo dài.

Thang giá tham chiếu

Giá VHC 50.300 đồng cao hơn tám và thấp hơn bốn trong mười hai phép tính định giá

Thang giá xếp các phép theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 69.200 đồng (02/02/2026), đáy đóng cửa 52 tuần 48.250 đồng (29/09/2026) và giá trị sổ sách 45.842 đồng.

Giá nằm giữa P/B hợp lý ROE 14% (56.029 đồng) ở trên và đáy 52 tuần ở dưới, cao hơn giá 11,4% và thấp hơn giá 4,1%. Giá cao hơn đáy 52 tuần 4,2% và thấp hơn đỉnh 27,3%.

Phân tích kỹ thuật

Biểu đồ tuần VHC của Tô Triều từ 2017 đến 10/2026: đường xu hướng tăng từ 2020 đã bị phá, đường xu hướng giảm, hỗ trợ 42.185 và 33.864, RSI 38,2, Stochastic 33,8

Trên biểu đồ tuần của Tô Triều, đường xu hướng tăng từ năm 2020 đã bị phá vỡ và được re-test rất kỹ. Kết quả là giá tích luỹ dưới đường xu hướng rồi giảm. Khung tuần cũng có Dead Crossover.

Hỗ trợ quan trọng nằm ở 33.000 đến 33.900 đồng, với hỗ trợ trung gian ở 42.185 đồng. Nếu giá phục hồi về khoảng 55.000 đồng, đó nên được coi là bull trap và là cơ hội thoát hàng.

RSI khung tuần đang ở vùng của phe Bear (38,2 trên biểu đồ) và chưa quá bán, nên dư địa giảm tiếp vẫn còn. Stochastic tuần ở 33,8, chưa quá bán. Mũi tên trên biểu đồ vẽ kịch bản giá hồi lên khoảng 55.000 đến 57.000 đồng rồi giảm về 33.864 đồng.

Hỗ trợ - Kháng cự

Biểu đồ tuần VHC từ 2017: kháng cự 55.000 đến 57.071 và 59.720 đến 62.900, hỗ trợ 40.490 đến 43.290 và 33.000 đến 33.900, đường xu hướng tăng đã bị phá và đường xu hướng giảm

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 2017, kèm các đường của Tô Triều. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần).

Vùng giá (đồng)

Loại

Ý nghĩa

55.000 tới 57.071

Kháng cự, vùng hồi

Đáy tuần 15/07/2022 (55.130), 13/03/2026 (55.100), 12/06/2026 (55.400); trùng Fibonacci 38,2% (56.253), đường MA 56.222 và EMA100 57.071; cao hơn giá 9,3% đến 13,5%

59.720 tới 62.900

Kháng cự

Đỉnh tuần 04/08/2023, 12/01/2024, 04/07/2025, 21/11/2025, 24/04/2026 (62.900) và 26/06/2026; đường xu hướng giảm đi qua khoảng 59.600; cao hơn giá 18,7% đến 25,0%

40.490 tới 43.290

Hỗ trợ trung gian

Đáy tuần 31/03/2023 (40.490), 26/05/2023 (42.930) và 25/04/2025 (42.280), sát đường 42.185 của Tô Triều; thấp hơn giá 13,9% đến 19,5%

33.000 tới 33.900

Hỗ trợ quan trọng

Đường 33.864 của Tô Triều; đóng cửa tuần 12/2018 (33.890), đỉnh tuần 2019 (33.390 đến 33.730) và mép dải đi ngang tới 08/2021; thấp hơn giá 32,6% đến 34,4%

Khoảng 58.460 (04/04/2025)

Đường xu hướng tăng từ 2020, đã bị phá

Nối đáy tuần 03/04/2020 (13.790), 23/07/2021 (25.840), 31/03/2023 (40.490) và 26/05/2023 (42.930); dốc khoảng 171 đồng mỗi tuần

Đường xu hướng tăng từ 2020 bị phá ở tuần 04/04/2025. Đường nối đáy tuần 03/04/2020 (13.790 đồng, khoảng 15.000 trên biểu đồ) với các đáy 23/07/2021, 31/03/2023 và 26/05/2023, tức đi qua các đáy lớn của nhịp tăng. Tuần 28/03/2025 giá đóng cửa 59.920 còn cao hơn đường 2,8%, rồi tuần 04/04/2025 đóng cửa 52.670, thấp hơn đường (khoảng 58.460) 9,9%.

Sau khi bị phá, giá re-test đường này năm lần mà không tuần nào đóng cửa trên đường: tuần 27/06/2025 (đỉnh 59.630, thấp hơn đường 1,5%), 15/08/2025 (60.880, thấp hơn 1,3%), 19/09/2025 (đỉnh 64.070 vượt đường 2,4% nhưng đóng cửa 60.300, thấp hơn 3,6%), 30/01/2026 (65.600, thấp hơn 0,3%) và 06/02/2026 (đỉnh 69.900 vượt đường 5,9%, đóng cửa 60.000, thấp hơn 9,1%).

Từ 30/05/2025 đến 03/07/2026, giá tích luỹ dưới đường trong 57 tuần, với giá đóng cửa tuần từ 51.900 đến 64.700 đồng. Từ tuần 24/07/2026 giá giảm khỏi dải này, đóng cửa 53.900 đồng rồi xuống 49.550 đồng ngày 25/09, và nay là 50.300 đồng, thấp hơn đường kéo dài 30,6%.

Đường xu hướng giảm nối sáu đỉnh tuần, từ 10/06/2022 (87.320 đồng) qua 29/03/2024, 21/06/2024, 06/12/2024, 21/02/2025 tới 24/04/2026 (62.900 đồng), và hạ dần khoảng 122 đồng mỗi tuần. Đường đi qua khoảng 59.600 đồng ở tuần cuối, cao hơn giá 18,5%.

Hỗ trợ trung gian 42.185 đồng và hỗ trợ quan trọng 33.000 đến 33.900 đồng. Mức 42.185 gần đáy tuần 25/04/2025 (42.280, thấp hơn giá 15,9%) và đáy tuần 31/03/2023 (40.490). Giá đóng cửa tuần 07/12 và 14/12/2018 cùng là 33.890 đồng, rồi vùng 33.000 đến 33.900 là mép trên của dải đi ngang 2019 đến 08/2021: đỉnh tuần 33.730 (25/01/2019), 33.390 (08/03/2019), 33.370 (31/05/2019), 34.030 (18/12/2020), 34.460 (18/06/2021) và 34.820 (20/08/2021). Giá đóng cửa tuần vượt lên trên dải này tuần 03/09/2021 (35.890), và đáy tuần 01/10/2021 là 34.240 đồng.

Đỉnh 52 tuần (đóng cửa) là 69.200 đồng ngày 02/02/2026 và đáy 52 tuần (đóng cửa) là 48.250 đồng ngày 29/09/2026. Đỉnh chu kỳ từ 2017 (đóng cửa) là 84.730 đồng ngày 03/06/2022 và đáy chu kỳ (đóng cửa) là 13.710 đồng ngày 02/11/2017.

Fibonacci

Giá VHC tuần kèm các mức Fibonacci của nhịp giảm từ đỉnh tháng 02/2026 xuống đáy tháng 09/2026

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp giảm từ đỉnh 69.200 đồng ngày 02/02/2026 xuống đáy 48.250 đồng ngày 29/09/2026, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đáy lên là 23,6% (53.194 đồng), 38,2% (56.253 đồng), 50% (58.725 đồng), 61,8% (61.197 đồng) và 78,6% (64.717 đồng).

Giá 50.300 đồng mới hồi 9,8% nhịp giảm, thấp hơn mức 23,6% khoảng 5,4%. Mức 38,2% (56.253 đồng) nằm trong vùng hồi 55.000 đến 57.071 đồng, cao hơn giá 11,8%, và mức 61,8% nằm trong vùng 59.720 đến 62.900 đồng, sát đường xu hướng giảm.

Xu hướng EMA

Giá VHC nến tuần kèm EMA10, EMA20, EMA50, EMA100, EMA200 tuần

Giá 50.300 đồng nằm dưới cả năm đường EMA tuần: EMA10 ở 51.553, EMA20 ở 53.040, EMA50 ở 55.498, EMA100 ở 57.071 và EMA200 ở 55.831 đồng. Giá thấp hơn EMA10 2,4%, EMA20 5,2%, EMA50 9,4%, EMA100 11,9% và EMA200 9,9%.

EMA20 tuần đã cắt xuống EMA50 ngày 24/07/2026 và EMA50 cắt xuống EMA200 ngày 16/10/2026, và cả hai chưa cắt lên lại. EMA ngắn hạn xếp thấp hơn EMA dài hạn, đúng thứ tự của một nhịp giảm.

Giá VHC nến tuần kèm EMA50 và EMA100, EMA50 cắt xuống EMA100 tuần 20/06/2025

Dead Crossover khung tuần: EMA50 cắt xuống EMA100 ngày 20/06/2025 (60.452 so với 60.467 đồng), và hai đường chưa cắt lên lại. Hơn 16 tháng sau, EMA50 ở 55.498 đồng thấp hơn EMA100 (57.071 đồng) 1.573 đồng. Đường xám 57.071 đồng trên biểu đồ của Tô Triều trùng EMA100 tuần, còn đường vàng 56.222 đồng là đường ngắn hạn hơn (EMA50 tính từ dữ liệu giá là 55.498 đồng).

Từ đầu năm VHC giảm 10,3% trong khi VN-Index giảm 2,4%, và trong 60 phiên giảm 6,0% so với VN-Index giảm 2,0%. Trong 20 phiên gần nhất VHC giảm 0,8%, so với VN-Index tăng 0,2%. Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 287.610 cổ phiếu, bằng 0,85 lần trung bình 60 phiên.

RSI và động lượng

RSI(14) tuần của VHC ở 40,3, cắt lên trên 30 tuần 09/05/2025 sau đợt quá bán tháng 04/2025

RSI(14) tuần ở 40,3, không chạm vùng quá bán từ tháng 05/2025 và không chạm vùng quá mua từ tháng 03/2024. RSI trên 70 trong tháng 03/2024 (đỉnh 75,6 tuần 29/03/2024) rồi giá giảm, và quá bán gần nhất là tháng 04 và 05/2025 (thấp nhất 21,6 tuần 18/04/2025), kết thúc khi RSI cắt lên 30 tuần 09/05/2025. Từ đó RSI dao động từ 33,1 (tuần 23/05/2025) đến 64,1 (tuần 30/01/2026).

Biểu đồ của Tô Triều ghi RSI 38,2, còn RSI(14) làm mượt kiểu Wilder tính từ dữ liệu giá cho 40,3; cả hai đều dưới 50 và trên 30. RSI tuần lần cuối trên 50 là tuần 03/07/2026 (51,0), và đã dưới 50 liên tục 17 tuần, tức nằm trong vùng của phe Bear. RSI còn cách ngưỡng quá bán 30 khoảng 10 đơn vị, nên chưa quá bán và dư địa giảm tiếp vẫn còn.

MACD tuần của VHC cắt xuống đường tín hiệu tuần 22/05/2026

MACD tuần cắt xuống đường tín hiệu ngày 22/05/2026 và chưa cắt lên lại, rồi chuyển xuống dưới 0 từ tuần 10/07/2026. MACD âm 1.906 dưới tín hiệu âm 1.855, và histogram thu hẹp từ âm 653 xuống âm 51 trong sáu tuần, tức lực giảm đã yếu đi nhưng MACD chưa cắt lên lại.

Stochastic(14, 3, 3) tuần của VHC rời vùng quá bán, các đợt quá mua và quá bán được tô màu

Stochastic (14, 3, 3) tuần ở %K 33,8 và %D 32,8. %K nằm dưới 20 liên tục 11 tuần từ 31/07 đến 09/10/2026 (thấp nhất 1,0 tuần 25/09), %K cắt lên %D từ tuần 02/10 và rời vùng quá bán từ tuần 16/10. Đợt quá mua gần nhất là tuần 30/01/2026 (%K 82,5), ngay trước đỉnh tuần 06/02/2026 (69.900 đồng).

Kế hoạch tham khảo

Kế hoạch dưới đây là của Tô Triều, xây trên đồ thị tuần: nếu giá hồi lên khoảng 55.000 đồng thì coi đó là bull trap và là cơ hội thoát hàng, rồi giá có thể giảm về hỗ trợ trung gian 42.185 đồng và hỗ trợ quan trọng 33.000 đến 33.900 đồng.

Tình huống

Vùng giá (đồng)

Cách đọc

Vùng hồi, bull trap, cơ hội thoát hàng

55.000 tới 57.071

Cao hơn giá 50.300 từ 9,3% đến 13,5%; trùng Fibonacci 38,2% (56.253), đường MA 56.222, EMA100 tuần 57.071 và đáy tuần 03/2026, 06/2026 (55.100, 55.400); đường xu hướng giảm đi qua khoảng 59.600, cao hơn giá 18,5%

Hỗ trợ trung gian

42.185

Thấp hơn giá 16,1%; sát đáy tuần 25/04/2025 (42.280) và vùng đáy 40.490 đến 43.290

Hỗ trợ quan trọng

33.000 tới 33.900

Thấp hơn giá 32,6% đến 34,4%; đường 33.864 (thấp hơn giá 32,7%), mép trên dải đi ngang 2019 đến 08/2021

Kịch bản yếu hơn nếu thủng 33.000

Dưới 33.000

Các đáy tuần trước đó là 29.790 (27/08/2021, thấp hơn giá 40,8%) và 25.840 (23/07/2021, thấp hơn giá 48,6%)

Hồi lên vùng 55.000 đến 57.071 đồng chưa xác nhận đảo chiều. Vùng này gom hai đường MA, Fibonacci 38,2% và đáy cũ của năm 2026, và nằm dưới đường xu hướng giảm, trong khi đường xu hướng tăng từ 2020 đã bị phá và không có tuần nào đóng cửa lại trên đường này.

Giá 50.300 đồng chưa hồi về vùng 55.000 đồng. Mũi tên trên biểu đồ vẽ giá hồi tới khoảng 55.000 đến 57.000 đồng rồi giảm về 33.864 đồng, đi qua hỗ trợ trung gian 42.185 đồng.

Cổ tức

Cổ tức tiền mặt VHC đã chi theo năm từ 2019 đến 2025 và kế hoạch 2026

Kế hoạch cổ tức tiền mặt năm 2026 là 30%, tức 3.000 đồng mỗi cổ phiếu, khoảng 628 tỷ đồng trên 209,45 triệu cổ phiếu. Mức này bằng 6,0% giá hiện tại, 51% EPS bốn quý (5.882 đồng) và 66% EPS chín tháng (4.557 đồng).

Công ty chi 448,9 tỷ đồng cổ tức tiền mặt trong quý IV/2025, đúng 20% vốn điều lệ lúc đó (2.244,5 tỷ), sau khi vốn tăng 20% từ 1.870 lên 2.245 tỷ đồng năm 2024, năm công ty chi 897,8 tỷ cổ tức tiền mặt. Tiền và đầu tư ngắn hạn 3.928 tỷ đủ trả khoản 628 tỷ, nhưng vay đã tăng và dòng tiền kinh doanh chín tháng chỉ 47 tỷ.

Lịch sự kiện cần theo dõi

Thời điểm

Sự kiện

Vì sao quan trọng

Giữa tháng 11 và tháng 12/2026

Báo cáo bán hàng tháng 10 và tháng 11 của VHC

Doanh thu Mỹ và cá tra khi thuế Mục 301 áp dụng đủ tháng; tháng 9 Mỹ tăng 22%

Quý IV/2026

Vay nợ và giải ngân đầu tư 1.520 tỷ đồng

Chi phí lãi vay quý III đã 36,8 tỷ; chi mua sắm chín tháng đã 730 tỷ

Tháng 01/2027

Kết quả quý IV/2026 và cả năm

Lợi nhuận chín tháng 954 tỷ, quý IV cần 646 tỷ để đủ 1.600 tỷ

Quý II/2027

Đại hội cổ đông thường niên

Kế hoạch 2027 và cổ tức; kế hoạch 2026 là 30% bằng tiền

Các tuần tới

Giá đóng cửa tuần so với vùng hồi 55.000 đến 57.071 và hỗ trợ 42.185

Hồi tới vùng hồi hay mất đáy 48.250 là hai kịch bản trên biểu đồ tuần

Kết luận

Cổ phiếu VHC ghi nhận lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 213 tỷ đồng quý III/2026, giảm 50,8% so với cùng kỳ khi doanh thu chỉ giảm 4,4%. Biên gộp 14,5% và tài chính ròng đảo từ lãi 94 tỷ sang lỗ 47 tỷ giải thích 92% mức giảm lợi nhuận trước thuế.

Điểm yếu nằm ở lợi nhuận, không nằm ở doanh thu. Chín tháng đạt 59,7% kế hoạch và quý IV cần 646 tỷ, trong khi vay đã tăng 1.123 tỷ, dòng tiền kinh doanh chỉ 47 tỷ và tiền thuần còn 759 tỷ.

Về giá, P/E 8,55 lần và P/B 1,10 lần cao hơn trung vị nhóm, tám trong mười hai phép định giá thấp hơn giá và DCF cơ sở 62.836 đồng cao hơn giá 24,9%. Về kỹ thuật, theo biểu đồ tuần của Tô Triều, đường xu hướng tăng từ 2020 đã bị phá ở tuần 04/04/2025 và re-test không thành, EMA50 tuần nằm dưới EMA100 từ 20/06/2025 và RSI tuần dưới 50 trong vùng của phe Bear. Hồi lên khoảng 55.000 đồng là bull trap và cơ hội thoát hàng; hỗ trợ kế tiếp là 42.185 đồng, rồi 33.000 đến 33.900 đồng.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026

Bắt đầu đầu tư

Mở tài khoản chứng khoán

Đặt lệnh, theo dõi danh mục và nhận cổ tức trên một ứng dụng. Mở trực tuyến, không cần ra quầy.

Mở tài khoản ngay

Watchlist

Đang tải…