Bài 57/60 · Technical IndicatorsHọc thử miễn phí

Khối lượng giao dịch: tính bằng số cổ phiếu hay bằng giá trị tiền

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 02/10/2026

Khối lượng giao dịch là số cổ phiếu được mua bán thành công trong một phiên. Con số này dễ thấy nhất trên bảng giá, nhưng cũng dễ đọc sai nhất. Một mã giá thấp có thể khớp vài triệu cổ phiếu mà tiền chảy qua chỉ vài tỷ đồng. Một mã giá cao khớp ít cổ phiếu hơn nhưng tiền lớn gấp nhiều lần.

Bài này phân biệt khối lượng tính bằng số cổ phiếu với giá trị giao dịch tính bằng tiền, chỉ ra khi nào dùng con số nào, và cách đọc khối lượng tương đối. Số liệu phiên lấy từ Yahoo Finance, HODL.VN tính, dữ liệu đến 02/10/2026.

Cách đếm khối lượng giao dịch

Mỗi lần một lệnh mua gặp một lệnh bán, hệ thống ghi một giao dịch với khối lượng và giá. Cộng tất cả giao dịch trong phiên ta có khối lượng giao dịch của mã đó trong ngày. Phiên càng nhiều người mua bán, con số càng lớn.

Trên sàn có hai phương thức. Khớp lệnh là lệnh của nhà đầu tư được hệ thống ghép tự động. Giao dịch thỏa thuận là hai bên tự thoả thuận giá, khối lượng rồi ghi nhận qua hệ thống, quy định ở Điều 24 đến 27 Quy chế kèm Quyết định 22/QĐ-HĐTV ngày 16/03/2026 của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. Bảng giá thường tách hai phần này. Khi so khối lượng giữa các ngày, bạn nên dùng cùng một loại, thường là khối lượng khớp lệnh.

Quy chế cũng phân biệt lô chẵn và lô lẻ. Điều 34 nêu lệnh lô lẻ không được dùng để xác định giá tham chiếu. Giá đóng cửa là giá của lần khớp lệnh lô chẵn cuối cùng trong ngày. Vì vậy phần khối lượng lô lẻ thường được hiển thị riêng.

Giá trị giao dịch là gì

Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch

Giá trị giao dịch là tổng số tiền của các lần khớp: khối lượng mỗi lần nhân với giá khớp lần đó, rồi cộng lại. Nếu không có dữ liệu từng lần khớp, bạn có thể ước bằng khối lượng cả phiên nhân giá đóng cửa. Cách ước này lệch chút ít khi giá dao động mạnh trong phiên, nhưng đủ để so sánh.

GTGD=∑iKLi×Pi\text{GTGD} = \sum_{i} \text{KL}_{i} \times P_{i}

Trong đó: KL_i và P_i là khối lượng và giá của lần khớp thứ i. Khi thiếu dữ liệu từng lần khớp, thay bằng khối lượng cả phiên nhân giá đóng cửa.

Tiêu chí

Khối lượng (số cổ phiếu)

Giá trị (tiền)

Đo cái gì

Số cổ phiếu đổi chủ

Số tiền chảy qua

Phụ thuộc thị giá

Có, mã giá thấp nhìn lớn

Không, so được giữa các mã

Nên dùng để

So một mã qua các phiên

So các mã với nhau

Hai con số trả lời hai câu hỏi khác nhau. Trên bảng giá, cột tổng khối lượng thường nằm cạnh giá khớp gần nhất, còn giá trị đôi khi chỉ hiện ở phần tổng hợp của sàn hoặc trong trang chi tiết của mã. Khối lượng cho biết có bao nhiêu cổ phiếu đổi chủ. Giá trị cho biết có bao nhiêu tiền thật tham gia.

So khối lượng giữa các mã

Giá trị giao dịch phiên 02/10/2026 của 5 mã

Bảng dưới lấy phiên 02/10/2026. Giá trị ước bằng khối lượng nhân giá đóng cửa.

Mã

Giá đóng cửa (đồng)

Khối lượng (cổ phiếu)

Giá trị ước tính (tỷ đồng)

HPG

20.050

35.378.700

709,3

SSI

19.700

24.912.200

490,8

VCB

57.100

3.512.400

200,6

FPT

62.100

3.199.600

198,7

HQC

1.860

1.928.800

3,6

Nhìn khối lượng, HQC khớp gần 2 triệu cổ phiếu, bằng khoảng 60% của FPT. Nhìn giá trị, tiền chảy qua FPT lớn gấp khoảng 55 lần HQC. Lý do nằm ở thị giá: một cổ phiếu FPT có giá gấp hơn 33 lần một cổ phiếu HQC.

Bài học rút ra rất đơn giản. Muốn so độ sôi động giữa các mã, dùng giá trị giao dịch. Muốn so một mã qua các ngày, khối lượng giao dịch vẫn dùng tốt, miễn là trong khoảng đó không có chia tách hay thưởng cổ phiếu làm số cổ phiếu thay đổi.

Khối lượng tương đối

Một con số khối lượng đứng riêng không nói nhiều. Nó cần được so với mức bình thường của chính mã đó. Cách phổ biến là lấy khối lượng phiên chia cho khối lượng trung bình 20 phiên gần nhất.

KL tương đối=KLphiênKLTB 20 phiên\text{KL tương đối} = \dfrac{\text{KL}_{\text{phiên}}}{\text{KL}_{\text{TB 20 phiên}}}

Ví dụ với phiên 02/10/2026: HPG khớp 35,4 triệu cổ phiếu, trong khi trung bình 20 phiên là 17,4 triệu cổ phiếu. Tỷ lệ khoảng 2,0 lần. VHM khớp 6,2 triệu cổ phiếu so với trung bình 10,2 triệu cổ phiếu, tỷ lệ khoảng 0,6 lần. Con số này chỉ cho biết phiên đó sôi động hơn hay kém hơn bình thường, không tự nó nói giá sẽ đi đâu.

Khi đọc khối lượng tương đối, cần để ý ba trường hợp đặc biệt. Phiên có giao dịch thỏa thuận lớn làm tổng khối lượng phình ra. Phiên cơ cấu rổ chỉ số hoặc ngày đáo hạn phái sinh thường có khối lượng cao bất thường. Sau khi chia tách hay thưởng cổ phiếu, số cổ phiếu lưu hành tăng nên khối lượng các phiên cũ không còn so trực tiếp được. Cách kết hợp khối lượng với biến động giá có trong bài phân tích khối lượng giao dịch chứng khoán.

Dùng khối lượng giao dịch

Việc thực tế nhất là ước xem lệnh của bạn lớn hay nhỏ so với thị trường của mã đó. Một lệnh 200 triệu đồng là rất nhỏ với mã có giá trị trung bình vài trăm tỷ đồng mỗi phiên. Cùng lệnh đó có thể chiếm phần đáng kể ở mã chỉ vài tỷ đồng mỗi phiên. Khi đó bạn có thể phải mua hoặc bán qua nhiều mức giá, và khó thoát ra nhanh khi cần cắt lỗ.

Việc thứ hai là xác nhận một biến động giá. Giá vượt vùng kháng cự với khối lượng cao hơn trung bình thường được xem là đáng tin hơn so với khi khối lượng thấp. Đây là một gợi ý để xem xét, không phải quy tắc chắc chắn. Phần vùng giá có trong bài học hỗ trợ và kháng cự.

Việc thứ ba là chọn mã phù hợp với cỡ vốn. Người mới nên ưu tiên mã có giá trị giao dịch đều đặn, để việc mua bán không bị kẹt. Thói quen xem giá trị trung bình 20 phiên trước khi mua giúp bạn tránh nhiều rắc rối về sau. Bài học cách đọc các loại lệnh chứng khoán cho biết lệnh nào phù hợp khi thanh khoản mỏng.

Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.

Watchlist

Đang tải…