Bài 28/46 · Hỗ trợ - Kháng cựHọc thử miễn phí

Entry trong trend tăng: sau breakout hay pullback

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 20/10/2026

Entry trend tăng là câu hỏi mua ở đâu khi giá đã vào xu hướng tăng. Có hai trường phái. Một là mua ngay khi giá vượt đỉnh cũ, gọi là breakout. Hai là chờ giá quay về thử lại đỉnh cũ, gọi là pullback, rồi mới mua. Bài này đo cả hai trên 131 lần vượt đỉnh của 7 cổ phiếu HOSE.

Bài thuộc khoá Kỹ thuật thực chiến, module Hỗ trợ - Kháng cự. Dữ liệu ngày từ bảng giá D1 của HODL.VN, giá đã điều chỉnh, ngày giao dịch theo giờ Việt Nam. Mẫu gồm HPG, VNM, MBB, VIC, CTG, VHM và POW từ 01/2019 đến 02/10/2026, HODL.VN tính, chưa tính phí và thuế. Bài khác trong loạt đã so điểm vào theo đỉnh 20 phiên và đường EMA 20, định nghĩa khác với bài này.

Entry trend tăng: hai cách vào lệnh

Điểm xuất phát là một đỉnh xoay đã được xác nhận. Đỉnh xoay là giá đóng cửa cao nhất trong 5 phiên trước và 5 phiên sau nó. Khi giá đóng cửa vượt lên trên đỉnh đó lần đầu, trong lúc cấu trúc còn là đỉnh đáy tăng, bài ghi một sự kiện breakout. Có 131 sự kiện.

Cách A là mua ở giá đóng cửa của phiên vượt. Cách B là chờ. Nếu trong 10 phiên sau, giá đóng cửa quay về từ 1% trên đỉnh cũ trở xuống, bài mua ở phiên đầu tiên như vậy. Nếu giá không quay về, cách B không có lệnh. Cả hai cách đều giữ 20 phiên.

Nghe qua thì cả hai đều hợp lý. Cách A mua khi xu hướng vừa chứng minh còn sống. Cách B mua rẻ hơn ở mức mà kháng cự cũ có thể trở thành hỗ trợ. Số liệu giúp cân nhắc đánh đổi.

Pullback về mốc cũ có xảy ra không

Tỷ lệ breakout có và không có pullback về mốc cũ

Trong 131 lần vượt, 97 lần có pullback trong 10 phiên, tức 74%. Chỉ 34 lần, 26%, giá đi thẳng lên mà không quay lại. Vậy ba trên bốn lần vượt đỉnh đều cho người chờ một cơ hội mua thấp hơn.

Con số này giải thích vì sao chiến lược chờ pullback được ưa chuộng: phần lớn thời gian nó có lệnh. Nhưng một phần tư thời gian nó không có lệnh, và các lần đó không phải ngẫu nhiên.

Kết quả hai cách entry trend tăng

Bảng dưới so các nhóm sau 20 phiên giữ.

Nhóm lệnh

Số lệnh

Lãi trung bình

Trung vị

Tỷ lệ lãi

A: mua khi vượt, tất cả

131

1,09%

0,32%

50%

A: các lần sau đó có pullback

97

−1,40%

−1,95%

39%

B: mua khi pullback

97

0,46%

0,28%

52%

A: các lần không có pullback

34

8,18%

6,73%

82%

Có ba điều rút ra. Thứ nhất, với 97 lần có pullback, mua ngay khi vượt lỗ trung bình 1,40%, còn chờ pullback lãi trung bình 0,46%. Chờ giúp tránh lệnh mua đắt trong trường hợp này.

Thứ hai, với 34 lần không có pullback, mua ngay khi vượt lãi trung bình 8,18%, và 82% số lần có lãi. Người chờ pullback bỏ lỡ toàn bộ nhóm này. Đây chính là nhóm kéo lãi trung bình của cách A lên dương.

Thứ ba, tính trên cả 131 tín hiệu, cách A lãi trung bình 1,09% mỗi tín hiệu. Cách B lãi 0,46% trên 97 lệnh và 0 trên 34 tín hiệu không có lệnh, tức khoảng 0,34% mỗi tín hiệu. Cách chờ có kết quả trung bình thấp hơn, dù lệnh của nó ít thua hơn khi pullback xảy ra.

Pullback có giảm rủi ro không

Mức giảm sâu nhất trong 20 phiên của hai cách vào lệnh

Người chờ pullback thường kỳ vọng vào lệnh an toàn hơn. Số liệu không xác nhận. Trong 20 phiên sau khi vào lệnh, mức giảm sâu nhất của giá đóng cửa có trung vị âm 3,9% với cách A, và âm 4,4% với cách B. Cách B không nông hơn, thậm chí hơi sâu hơn.

Lý do hợp lý là pullback chọn đúng những lần giá đã tỏ ra yếu. Nếu giá quay lại thử mốc cũ, đó là lúc bên bán còn lực. Mua ở đó là mua vào một cuộc giằng co chưa ngã ngũ. Trong khi đó, những lần giá không quay lại là những lần bên mua áp đảo.

Cách

Giảm sâu nhất trong 20 phiên, trung vị

Tỷ lệ lãi

Cách A

−3,9%

50%

Cách B

−4,4%

52%

Điều này cũng giải thích vì sao tỷ lệ lãi của cách B chỉ 52%. Chờ giá rẻ hơn không bảo đảm giá sẽ đi lên sau đó. Giá rẻ hơn đôi khi là dấu hiệu của sự yếu.

Hai ví dụ: HPG pullback, VNM không

Hai ví dụ breakout của HPG và VNM

HPG có đỉnh xoay 20.740 đồng ngày 10/12/2024. Ngày 27/02/2025 giá đóng cửa 21.150 đồng, vượt lần đầu. Ngày hôm sau, 28/02/2025, giá đóng cửa 20.810 đồng, thấp hơn mức 1% trên đỉnh cũ là 20.947 đồng, nên cách B có lệnh. Sau 20 phiên giữ, cách A lỗ 3,4% và cách B lỗ 3,0%. Chờ pullback chỉ giảm lỗ chút ít, không tránh được lỗ.

VNM có đỉnh xoay 58.172 đồng ngày 07/05/2024. Ngày 31/07/2024 giá đóng cửa 61.252 đồng, vượt lần đầu sau nhiều lần thử. Trong 10 phiên sau, giá đóng cửa thấp nhất là 59.370 đồng, vẫn cao hơn mốc 58.754 đồng là 1% trên đỉnh cũ. Cách B không có lệnh. Sau 20 phiên, cách A lãi 3,2%.

Ví dụ

Đỉnh cũ

Giá ngày vượt

Pullback trong 10 phiên

Kết quả sau 20 phiên của cách A

HPG, 27/02/2025

20.740 đồng

21.150 đồng

Có, ngày 28/02/2025

−3,4%

VNM, 31/07/2024

58.172 đồng

61.252 đồng

Không

+3,2%

Hai ví dụ không đại diện cho trung bình. Chúng chỉ minh họa hai nhánh của cùng một câu hỏi.

Chọn entry trend tăng theo kế hoạch

Không có cách vào nào thắng chắc. Cách A chấp nhận nhiều lệnh thua nhỏ để không bỏ lỡ lệnh chạy mạnh. Cách B tránh một số lệnh mua đắt nhưng bỏ lỡ đúng những lệnh sinh lãi lớn nhất. Lựa chọn tùy khẩu vị: bạn ngại bỏ lỡ hay ngại mua đắt hơn.

Nhiều người kết hợp. Mua một phần khi vượt, mua thêm phần còn lại nếu có pullback. Dù chọn thế nào, hãy xác định trước mức bạn thừa nhận mình sai, thường là giá đóng cửa quay lại dưới đỉnh cũ một khoảng đáng kể. Hai bài hỗ trợ và kháng cự và giao dịch với kháng cự và hỗ trợ giúp bạn chọn mức đó.

Số liệu trên là thống kê quá khứ của 7 mã vốn hóa lớn. Mẫu 131 sự kiện là nhỏ, các sự kiện của cùng một mã có thể liên quan nhau, nên đừng coi kết quả là quy luật.

Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.

Watchlist

Đang tải…