Bài 62/64 · Technical IndicatorsHọc thử miễn phí
Bollinger Band (dải Bollinger): tính từ đường trung bình và độ lệch chuẩn
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 02/10/2026
Bollinger Band, hay dải Bollinger, là ba đường vẽ quanh giá: một đường trung bình động ở giữa và hai dải cách đều phía trên, phía dưới theo độ lệch chuẩn. Khi giá biến động mạnh, hai dải nở rộng. Khi giá đi chậm, hai dải co hẹp lại. Nhờ vậy, chỉ báo cho biết giá hiện tại đang cao hay thấp so với chính biến động gần đây.
Bài này giải thích công thức, tính lại một ví dụ trên cổ phiếu HPG, và đo xem giá nằm trong dải bao nhiêu phần trăm thời gian trên cổ phiếu Việt Nam. Dữ liệu ngày từ bảng giá ngày (D1) của HODL.VN, giá đã điều chỉnh, ngày giao dịch theo giờ Việt Nam, dữ liệu đến 02/10/2026, HODL.VN tính.
Bollinger Band là gì
Chỉ báo mang tên John Bollinger, người tạo ra nó. Trên trang bollingerbands.com, ông viết rằng dải Bollinger cho một định nghĩa tương đối về cao và thấp. Theo định nghĩa, giá ở dải trên là cao, giá ở dải dưới là thấp.
Chữ "tương đối" là điểm mấu chốt. Cùng một mức giá có thể là cao trong tháng trước nhưng là thấp trong tháng này, tùy giá đã đi đâu. Dải Bollinger tự điều chỉnh theo biến động, nên không cần đặt mốc cố định như RSI 70 và 30.
Chỉ báo thuộc nhóm đo biến động, gần với ATR hơn là với các chỉ báo động lượng. Nó cũng có hình dáng giống một kênh giá, nhưng độ rộng thay đổi theo từng phiên.
Công thức Bollinger Band

Cài đặt mặc định là 20 kỳ và 2 độ lệch chuẩn. Trên biểu đồ ngày, công thức như sau.
- Dải giữa là đường trung bình giản đơn 20 phiên của giá đóng cửa.
- Tính độ lệch chuẩn của 20 giá đóng cửa đó so với dải giữa.
- Dải trên bằng dải giữa cộng 2 lần độ lệch chuẩn.
- Dải dưới bằng dải giữa trừ 2 lần độ lệch chuẩn.
Trong đó: SMA 20 là dải giữa, trung bình giản đơn 20 phiên của giá đóng cửa, σ 20 là độ lệch chuẩn của 20 giá đóng cửa đó.
ChartSchool của StockCharts giải thích vì sao dải giữa dùng trung bình giản đơn. Công thức độ lệch chuẩn cũng dùng trung bình giản đơn, nên hai phần cần nhất quán. Số kỳ của độ lệch chuẩn luôn bằng số kỳ của đường trung bình. Nếu chưa quen đường trung bình giản đơn, xem bài SMA trung bình trượt giản đơn.
Độ lệch chuẩn đo mức giá tản ra quanh giá trị trung bình. Hai mươi phiên giá đi đều thì độ lệch chuẩn nhỏ, dải hẹp. Hai mươi phiên giá nhảy mạnh thì độ lệch chuẩn lớn, dải rộng.
Ví dụ HPG phiên 02/10/2026
Trong 20 phiên tính đến 02/10/2026, giá đóng cửa của HPG dao động từ 20.050 đồng đến 22.050 đồng. Trung bình 20 phiên là 20.995 đồng, đây là dải giữa. Độ lệch chuẩn của 20 giá đóng cửa là 599,6 đồng.
Nhân đôi độ lệch chuẩn được khoảng 1.199 đồng. Dải trên là 20.995 cộng 1.199, ra 22.194 đồng. Dải dưới là 20.995 trừ 1.199, ra 19.796 đồng. Giá đóng cửa 20.050 đồng nằm sát dải dưới.
Có hai cách đo vị trí này bằng một con số. Chỉ số %b đo giá nằm ở đâu trong dải: 0 là dải dưới, 1 là dải trên. Với HPG, %b bằng (20.050 trừ 19.796) chia (22.194 trừ 19.796), ra khoảng 0,106. Chỉ số BandWidth đo độ rộng dải so với dải giữa. Với HPG, BandWidth là 11,4%.
Trong đó: P là giá đóng cửa.
Các con số trên chỉ mô tả vị trí giá trong dải vào một phiên. Chúng không phải dự báo về phiên tiếp theo. Nếu những phiên tới giá đi ngang quanh 20.050 đồng, các giá cao hơn từ đầu cửa sổ 20 phiên sẽ lần lượt rơi ra khỏi phép tính. Khi đó dải giữa hạ xuống và hai dải thường co hẹp dần, dù giá không đổi.
Giá nằm trong dải bao nhiêu %

Nhiều người nghĩ rằng 2 độ lệch chuẩn nghĩa là 95% giá nằm trong dải, như phân phối chuẩn trong sách thống kê. Bollinger phản đối cách hiểu này. Quy tắc thứ 14 của ông ghi rằng giá chứng khoán không phân phối chuẩn, và mẫu 20 kỳ quá nhỏ để suy luận thống kê. Ông viết rằng thực tế thường thấy khoảng 90% dữ liệu nằm trong dải với thông số mặc định.
Trên 7 mã HOSE là HPG, VNM, MBB, VIC, CTG, VHM và POW, HODL.VN đếm 3.367 phiên từ cuối năm 2024 đến 02/10/2026. Giá đóng cửa nằm trong dải ở 87,1% số phiên. Giá đóng cửa trên dải trên ở 8,0% số phiên, dưới dải dưới ở 4,8% số phiên.
Tỷ lệ đóng cửa ngoài dải trên gần gấp đôi ngoài dải dưới. Giai đoạn đo có nhiều nhịp tăng mạnh, nên giá thường xuyên vượt dải trên. Điều này cho thấy đóng cửa ngoài dải không phải chuyện hiếm, nên không thể coi mỗi lần như vậy là bất thường.
Có nên chỉnh thông số mặc định
Bollinger coi 20 kỳ và 2 độ lệch chuẩn chỉ là mặc định. Quy tắc thứ 11 gợi ý chỉnh hai thông số đi cùng nhau. Kéo dài đường trung bình lên 50 kỳ thì nâng hệ số lên 2,1. Rút ngắn xuống 10 kỳ thì hạ hệ số xuống 1,9. Mục đích là giữ tỷ lệ giá nằm trong dải ổn định.
Người giao dịch ngắn hạn có thể dùng 10 kỳ để dải bám sát giá hơn. Người nắm giữ vài tháng có thể dùng 50 kỳ hoặc dải trên biểu đồ tuần. Đổi thông số thì dải đổi tính chất, nên sau mỗi lần chỉnh cần kiểm tra lại trên lịch sử giá của mã mình theo dõi.
Cũng có phiên bản dùng trung bình hàm mũ. Theo Bollinger, khi đó cả dải giữa lẫn độ lệch chuẩn phải tính theo kiểu hàm mũ. Khác biệt giữa hai loại trung bình được trình bày trong bài moving averages.
Đọc Bollinger Band đúng cách
Quy tắc thứ 6 của Bollinger nói rõ: chạm dải chỉ là chạm, không phải tín hiệu. Chạm dải trên không tự nó là tín hiệu bán, chạm dải dưới không tự nó là tín hiệu mua. Quy tắc thứ 7 bổ sung rằng trong thị trường có xu hướng, giá có thể bám dải trên đi lên hoặc bám dải dưới đi xuống.
Vì vậy dải Bollinger hữu ích nhất khi trả lời câu hỏi "giá đang ở đâu so với biến động gần đây". Câu hỏi "nên làm gì" cần thêm thông tin về xu hướng, khối lượng và các vùng giá quan trọng. Bollinger cũng khuyên nếu dùng thêm chỉ báo, hãy chọn loại không liên quan trực tiếp với nhau, chẳng hạn một chỉ báo động lượng đi cùng một chỉ báo khối lượng.
Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.