Phân tích cổ phiếu FMC Quý 4/2026: Lãi quý III tăng 94%, doanh thu giảm 10%, dòng tiền kinh doanh âm

Triều Tô24 phút đọc
Nội dung bài16 phần
  1. Định giá cổ phiếu FMC: quy mô
  2. Lợi nhuận quý III đến từ đâu
  3. Thuế chống bán phá giá ở Mỹ
  4. Tôm tự nuôi, tồn kho, phải thu
  5. Dòng tiền kinh doanh
  6. Tiền, vay và lãi tiền gửi
  7. Thuế thu nhập doanh nghiệp
  8. Kế hoạch năm 2026 và cổ tức
  9. Cổ đông và thanh khoản
  10. Khối ngoại và tự doanh
  11. So sánh cùng ngành
  12. Định giá theo P/E, P/B và DCF
  13. Thang giá tham chiếu
  14. Phân tích kỹ thuật
  15. Hỗ trợ - Kháng cự
  16. Fibonacci
  17. Xu hướng EMA
  18. RSI và động lượng
  19. Lịch sự kiện cần theo dõi
  20. Kết luận

Định giá cổ phiếu FMC Quý 4/2026 bắt đầu từ một quý lãi tăng gần gấp đôi trong khi doanh thu giảm. Lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ quý III/2026 là 188,5 tỷ đồng, tăng 94,0% so với cùng kỳ, còn doanh thu thuần giảm 10,1% xuống 2.533,6 tỷ đồng (so với số quý III/2025 đã điều chỉnh).

Công ty giải thích mức tăng chủ yếu do quyết toán thu hoạch tôm tự nuôi vụ 2/2026 đạt hiệu quả cao. Giá đóng cửa phiên 30/10/2026 là 36.000 đồng, ứng với P/E 4,36 lần và P/B 0,92 lần, và cổ phiếu giao dịch trên sàn HOSE.

Điểm chính

  • Lợi nhuận cổ đông mẹ quý III/2026 tăng 94,0% lên 188,5 tỷ dù doanh thu thuần giảm 10,1%; lãi gộp tăng 67,6% lên 422,9 tỷ, biên lãi gộp 16,7% so với 9,0% cùng kỳ điều chỉnh, và công ty nêu nguyên nhân là quyết toán thu hoạch tôm tự nuôi vụ 2/2026.
  • Lợi nhuận trước thuế chín tháng 453,4 tỷ đã bằng 100,3% kế hoạch cả năm (452 tỷ), nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp chín tháng chỉ 0,9 tỷ (0,2%) vì 99,0% thu nhập chịu thuế được miễn, trong khi quý IV/2025 ghi 31,2 tỷ.
  • Dòng tiền kinh doanh chín tháng âm 43,7 tỷ; thành phẩm tồn kho tăng 43,6% lên 1.036,8 tỷ, phải thu tăng 61,8% lên 864,2 tỷ và vay ngắn hạn tăng 54,6% lên 2.361,8 tỷ, đáo hạn từ 10/2026 tới 03/2027.
  • Chi phí phải trả thuế chống bán phá giá là 399,4 tỷ (13,9% vốn chủ), trích theo mức sơ bộ 10,76% của kỳ rà soát POR 20; kết quả cuối cùng dự kiến khoảng tháng 11/2026, và doanh thu thủy sản bán sang Mỹ nửa đầu 2026 giảm 61,3%.
  • Chín trong mười hai phép định giá cao hơn giá 36.000 đồng, ba phép theo P/B của nhóm thấp hơn giá; cổ tức tiền mặt năm 2025 là 2.000 đồng (5,6% giá hiện tại) và Tập đoàn PAN, C.P. Việt Nam, Bến Tre nắm 75,0% vốn.
Lãi gộp và lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu FMC theo quý từ quý I/2024 đến quý III/2026

Định giá cổ phiếu FMC: quy mô

Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta (FMC, thương hiệu Fimex VN) niêm yết trên HOSE từ 07/12/2006 với 65,39 triệu cổ phiếu, vốn hoá theo giá 36.000 đồng là 2.354 tỷ đồng. Theo thuyết minh BCTC, công ty nuôi trồng, chế biến, bảo quản thủy sản và mua bán lương thực, thực phẩm, nông sản sơ chế; thủy sản chiếm khoảng 97% tổng doanh thu và nhân sự là 5.173 người tại 30/09/2026 (cuối năm 2025: 5.323).

Công ty có hai công ty con hợp nhất: Công ty Cổ phần Thực phẩm Khang An (nắm 51,54%, chế biến thủy sản) và Công ty TNHH Vĩnh Thuận (99,099% quyền sở hữu, nuôi tôm công nghiệp). Quý III/2026 doanh thu thuần 2.533,6 tỷ đồng; chín tháng đạt 5.599,6 tỷ, giảm 15,9% so với cùng kỳ điều chỉnh, trong khi lợi nhuận cổ đông mẹ chín tháng là 398,8 tỷ, tăng 92,4%.

Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ của cổ phiếu FMC theo năm từ 2015 đến chín tháng 2026

Lợi nhuận mẹ đi từ 97 tỷ đồng năm 2015 lên 349 tỷ năm 2025, và chín tháng 2026 đã vượt cả năm 2025, còn doanh thu thuần tăng từ 2.877 tỷ lên 8.185 tỷ. EPS bốn quý là 8.261 đồng và ROE bốn quý là 22,8%, tính trên vốn chủ cổ đông mẹ 2.552,2 tỷ cuối quý III.

Lợi nhuận quý III đến từ đâu

Bảng kết quả kinh doanh hợp nhất quý III và chín tháng của cổ phiếu FMC

Lãi gộp quý III là 422,9 tỷ đồng, tăng 67,6% từ 252,3 tỷ, trong khi doanh thu thuần giảm 10,1%, nên biên lãi gộp là 16,7%, so với 9,0% cùng kỳ. Chi phí bán hàng tăng 22,3% lên 183,5 tỷ và chi phí quản lý tăng 16,8% lên 26,8 tỷ, nên lãi gộp trừ hai khoản này đạt 212,6 tỷ, so với 79,4 tỷ.

Số quý III/2025 là số đã điều chỉnh trong BCTC quý III/2026: doanh thu trừ 166,0 tỷ chi phí thuế đối ứng, chi phí bán hàng giảm cùng số, lợi nhuận trước thuế không đổi. Theo số công bố cũ (doanh thu 2.989,5 tỷ, lãi gộp 418,3 tỷ, chi phí bán hàng 316,1 tỷ), lãi gộp quý III/2026 chỉ tăng 1,1% và phần tăng lợi nhuận đến từ chi phí bán hàng thấp hơn 132,6 tỷ; cả hai cách trình bày đều cho lợi nhuận trước thuế 199,9 tỷ so với 108,0 tỷ.

Thuế thu nhập doanh nghiệp quý III chỉ 0,4 tỷ nên lợi nhuận sau thuế hợp nhất là 199,5 tỷ, tăng 78,3%, đúng con số công ty nêu ở thuyết minh 31. Cổ đông không kiểm soát nhận 11,0 tỷ (cùng kỳ 14,7 tỷ), nên lợi nhuận cổ đông mẹ là 188,5 tỷ. Giải trình của công ty chỉ nêu nguyên nhân chủ yếu là quyết toán thu hoạch tôm tự nuôi vụ 2/2026, không nêu phần lợi nhuận của riêng tôm tự nuôi, nên bài không tách được phần này.

Cầu nối lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu FMC từ quý III/2025 sang quý III/2026

Cầu nối từ quý III/2025 sang quý III/2026 tách mức tăng 91,3 tỷ đồng của lợi nhuận cổ đông mẹ (từ 97,2 tỷ lên 188,5 tỷ). Lãi gộp cộng 170,5 tỷ, chi phí tài chính trừ 38,7 tỷ, chi phí bán hàng trừ 33,5 tỷ, thuế trừ 4,3 tỷ, thu nhập tài chính trừ 4,7 tỷ và chi phí quản lý trừ 3,8 tỷ, còn lợi nhuận khác cộng 2,0 tỷ và phần cổ đông không kiểm soát giảm cộng 3,7 tỷ.

Chi phí tài chính tăng từ 14,6 tỷ lên 53,3 tỷ, chủ yếu do chi phí lãi vay 34,3 tỷ, gấp 2,4 lần mức 14,4 tỷ, cộng lỗ chênh lệch tỷ giá khoảng 19,0 tỷ (chín tháng 27,8 tỷ trừ bán niên 8,8 tỷ). Thu nhập tài chính 38,6 tỷ gồm lãi tiền gửi khoảng 33,5 tỷ và lãi chênh lệch tỷ giá khoảng 5,1 tỷ, cũng tính bằng số chín tháng trừ số bán niên.

Cầu nối lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ của cổ phiếu FMC từ quý II/2026 sang quý III/2026

So với quý II, lợi nhuận mẹ tăng 19,1 tỷ đồng từ 169,4 tỷ, nhưng lợi nhuận trước thuế thực tế giảm 1,1% từ 202,2 tỷ xuống 199,9 tỷ. Lãi gộp cộng 179,5 tỷ gần như bị xóa bởi chi phí bán hàng 120,3 tỷ, thu nhập tài chính thấp hơn 32,2 tỷ và chi phí tài chính cao hơn 28,2 tỷ. Phần chênh còn lại đến từ cổ đông không kiểm soát giảm từ 32,7 tỷ xuống 11,0 tỷ, cộng 21,7 tỷ vào lợi nhuận của cổ đông mẹ.

Doanh thu thuần và biên lãi gộp của cổ phiếu FMC theo quý từ quý I/2025 đến quý III/2026

Biên lãi gộp là 7,2% ở quý I, 14,6% ở quý II và 16,7% ở quý III/2026, cao thứ hai trong 11 quý, sau 17,2% của quý IV/2025 theo số công bố gốc. Doanh thu quý III tăng 51,9% so với quý II nhưng thấp hơn quý III/2025. Sản lượng tiêu thụ hàng thủy sản quý III là 7.307 tấn, so với 4.895 tấn quý II, theo bảng tóm lược quyết toán đính kèm BCTC.

Thuế chống bán phá giá ở Mỹ

Chi phí phải trả thuế chống bán phá giá của cổ phiếu FMC theo thời điểm và theo kỳ rà soát

BCTC ghi 399,4 tỷ đồng chi phí phải trả cho thuế chống bán phá giá tại 30/09/2026, bằng 13,9% vốn chủ sở hữu (2.864,8 tỷ) và 95,8% tổng chi phí phải trả ngắn hạn (417,1 tỷ). Công ty ước tính và trích trước theo từng lô tôm xuất sang Mỹ, và số phải nộp được điều chỉnh theo quyết định cuối cùng của Bộ Thương mại Mỹ.

Bảng chi tiết có ở bán niên 2026: số dư 403,6 tỷ tại 30/06/2026 gồm 45,9 tỷ cho kỳ từ 02/2023 đến 01/2024 (POR 19, thuế suất cuối cùng 4,58% công bố ngày 17/02/2026), 140,9 tỷ cho kỳ 02/2024 đến 01/2025 (POR 20) và 216,8 tỷ cho kỳ từ 02/2025 chưa được rà soát. Hai khoản sau được trích theo 10,76%, mức sơ bộ Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 08/05/2026, trong đó FMC là một trong hai bị đơn bắt buộc; BCTC quý III không chia số dư theo kỳ.

Tại đại hội cổ đông ngày 17/04/2026, chủ tọa cho biết công ty khi đó trích 10,18% cho POR 20, nếu mức sơ bộ thấp, ví dụ 0%, khoản dự phòng sẽ chuyển vào lợi nhuận, và kết quả chính thức dự kiến khoảng tháng 11/2026. Chia 357,7 tỷ (hai khoản trích 10,76%) cho 10,76 thì mỗi 1% thuế suất tương ứng khoảng 33 tỷ đồng, bằng 7,3% lợi nhuận trước thuế chín tháng; đây là phép tính của HODL.VN, không phải số của công ty.

Báo cáo kiểm toán năm 2025 và báo cáo soát xét bán niên 2026 đều có đoạn nhấn mạnh rằng kết luận cuối cùng của POR 20 chưa có, và ý kiến của kiểm toán không bị ảnh hưởng. Theo chủ tọa, từ 2026 công ty không còn là bị đơn bắt buộc vì sản lượng xuất khẩu đã giảm, và mức thuế của kỳ nào áp dụng cho kỳ đó.

Chi phí bán hàng chín tháng của cổ phiếu FMC theo khoản, gồm thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp

Trong chi phí bán hàng chín tháng 285,4 tỷ đồng, thuế chống bán phá giá là 100,4 tỷ (cùng kỳ 98,0 tỷ), thuế chống trợ cấp 18,0 tỷ (59,9 tỷ) và vận chuyển 98,8 tỷ (115,5 tỷ). Tổng chi phí bán hàng giảm 32,5 tỷ, trong đó thuế chống trợ cấp giảm 41,9 tỷ; công ty áp thuế suất 2,84% cho khoản này. Thuế đối ứng không nằm trong bảng vì được trừ thẳng vào doanh thu.

Thuyết minh BCTC năm 2025 ghi thuế đối ứng 10% từ 05/04/2025, tăng lên 20% từ 07/08/2025, và ngày 20/02/2026 Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ các mức thuế này; sau đó Tổng thống Mỹ công bố thuế 10% với hầu hết hàng nhập khẩu trong 150 ngày. Báo cáo không nêu chi phí thuế đối ứng của quý III/2026, nên bài không so được khoản này với 166,0 tỷ của quý III/2025.

Doanh thu thủy sản của cổ phiếu FMC theo thị trường, sáu tháng đầu 2025 và 2026

Doanh thu thủy sản bán sang Mỹ sáu tháng đầu 2026 là 547,2 tỷ đồng, giảm 61,3% từ 1.413,9 tỷ, trong khi Nhật tăng 9,8% lên 811,1 tỷ, Anh tăng 3,2% lên 733,8 tỷ và thị trường khác tăng 10,3% lên 532,0 tỷ. Mỹ chiếm 18,1% doanh thu thủy sản sáu tháng 2026, so với 37,1% cùng kỳ và 37,6% cả năm 2025 (3.034,2 tỷ). Doanh thu nội địa giảm 15,9% còn 391,1 tỷ.

Chủ tọa đại hội cổ đông cho biết quý I công ty tạm chỉ bán các mặt hàng không chịu thuế vì mỗi container sang Mỹ phải đóng cọc 25%, và cơ cấu thị trường của công ty cân bằng ở Nhật khoảng 30%, châu Âu khoảng 25%, Mỹ trên 30%, Hàn Quốc và Úc 7% đến 8%. BCTC quý III không chia doanh thu theo thị trường nên bài không biết phần của Mỹ trong quý III; doanh thu tiêu thụ quý III là 88,55 triệu USD, so với 55,66 triệu USD quý II.

Tôm tự nuôi, tồn kho, phải thu

Sản lượng tôm mua vào, chế biến và tiêu thụ chín tháng của cổ phiếu FMC

Bảng tóm lược quyết toán cho thấy chín tháng công ty mua 35.406 tấn tôm nguyên liệu (giảm 1,5%) và chế biến 23.338 tấn tôm đông (giảm 0,4%), nhưng tiêu thụ 16.694 tấn hàng thủy sản, giảm 14,7%; doanh thu tiêu thụ là 194,2 triệu USD, giảm 17,5%. Quý III tiêu thụ 7.307 tấn, gấp 1,5 lần 4.895 tấn quý II. Báo cáo không nêu sản lượng tồn kho theo tấn.

Tồn kho, tài sản sinh học và phải thu khách hàng của cổ phiếu FMC tại 01/01/2026 và 30/09/2026

Thành phẩm tồn kho tăng 43,6% từ 721,9 tỷ đồng lên 1.036,8 tỷ, nguyên liệu và công cụ tăng từ 102,0 tỷ lên 215,4 tỷ, và hàng tồn kho được dùng thế chấp các khoản vay ngân hàng. Tài sản sinh học, tức tôm đang nuôi trong ao, tăng từ 26,1 tỷ lên 197,8 tỷ, gấp 7,6 lần.

Tôm đang nuôi là nguồn của lợi nhuận các quý sau, nhưng cũng là rủi ro mùa vụ: báo cáo của Hội đồng quản trị trình đại hội cổ đông nêu nuôi tôm trong nước còn khó khăn, tỷ lệ thành công thấp và giá thành cao. Theo báo cáo của Tổng giám đốc, hai vụ nuôi năm 2025 cho khoảng 11.500 tấn tôm thương phẩm, so với 29.543 tấn tôm chế biến cả năm.

Phải thu ngắn hạn của khách hàng tăng 61,8% lên 864,2 tỷ đồng, trong đó Mazzetta Company, LLC. 256,1 tỷ (đầu năm 144,2 tỷ) và Amanda Seafood Private Limited 242,8 tỷ (282,4 tỷ) cùng chiếm 57,7%. Phải trả người bán cũng tăng từ 113,2 tỷ lên 467,2 tỷ, gồm Kyokuyo Co., Ltd 69,8 tỷ và Williams Clarke Co., Inc 37,1 tỷ.

Dòng tiền kinh doanh

Cầu nối từ lợi nhuận trước thuế tới dòng tiền kinh doanh chín tháng 2026 của cổ phiếu FMC

Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh chín tháng là âm 43,7 tỷ đồng, so với âm 119,0 tỷ cùng kỳ, trong khi lợi nhuận trước thuế là 453,4 tỷ. Tồn kho tăng 565,3 tỷ và phải thu tăng 319,0 tỷ, được bù một phần bằng phải trả tăng 393,6 tỷ; công ty còn trả lãi vay 67,0 tỷ, nộp thuế thu nhập 16,0 tỷ và chi 34,8 tỷ từ quỹ khen thưởng, phúc lợi.

Theo quý, dòng tiền kinh doanh là 237,0 tỷ quý I, âm 357,0 tỷ quý II và 76,3 tỷ quý III. Bốn quý tới quý III/2026 tổng vẫn dương 588,7 tỷ nhờ quý IV/2025 (632,4 tỷ), nên mức âm hiện nay là của chín tháng, không phải của cả bốn quý.

Chi mua sắm và xây dựng tài sản cố định chín tháng chỉ 27,7 tỷ, so với khấu hao 133,2 tỷ và 78,2 tỷ chi mua sắm cùng kỳ; tài sản cố định hữu hình nguyên giá 1.869,5 tỷ đã khấu hao 67,6%. Vốn đang bị giữ chủ yếu ở vốn lưu động, không phải ở tài sản cố định.

Tiền, vay và lãi tiền gửi

Tiền, tiền gửi và vay ngân hàng của cổ phiếu FMC tại 30/09/2026

Tại 30/09/2026 FMC có 904,0 tỷ đồng tiền và 2.052,8 tỷ tiền gửi có kỳ hạn gốc 6 đến 12 tháng (lãi suất 3,4% đến 9,5% một năm), tổng 2.956,8 tỷ so với 2.226,9 tỷ đầu năm. Vay ngắn hạn là 2.361,8 tỷ, tăng 54,6% so với 1.527,7 tỷ, từ sáu ngân hàng với lãi suất 3,6% đến 8% một năm và kỳ hạn trả gốc từ 10/10/2026 tới 30/03/2027.

Trong số vay, 618,7 tỷ được bảo đảm bằng tiền gửi ngắn hạn tại chính ngân hàng cho vay (ACB 207,7 tỷ, Nam A 107,9 tỷ, HDBank 59,9 tỷ, VIB 46,5 tỷ và 196,7 tỷ của VietinBank, kèm hàng tồn kho). Phần còn lại 1.743,1 tỷ thế chấp bằng tài sản cố định, hàng tồn kho và quyền đòi nợ. Tổng tài sản tăng 30,7% lên 6.317,2 tỷ, còn nợ phải trả tăng 55,5% lên 3.452,4 tỷ.

Lãi tiền gửi chín tháng là 111,5 tỷ đồng, so với 43,5 tỷ cùng kỳ và bằng 24,6% lợi nhuận trước thuế, trong khi chi phí lãi vay là 67,7 tỷ (35,3 tỷ). Lãi tiền gửi trừ lãi vay vì thế còn 43,8 tỷ, nên tiền gửi lớn không phải nguồn lợi nhuận chính; lợi nhuận hoạt động chính (lãi gộp trừ bán hàng và quản lý) chín tháng là 403,0 tỷ, bằng 88,9% lợi nhuận trước thuế.

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Lợi nhuận trước thuế và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp của cổ phiếu FMC theo quý

Theo thuyết minh 29, thu nhập chịu thuế chín tháng 2026 là 465,5 tỷ đồng, trong đó 460,8 tỷ (99,0%) được miễn thuế, 4,7 tỷ chịu thuế suất 20% và không có phần chịu thuế suất 10%. Thuế hiện hành vì vậy chỉ 0,95 tỷ, tức 0,2% lợi nhuận trước thuế 453,4 tỷ. Công ty nêu hoạt động hàng nông sản và thủy sản ở vùng đặc biệt khó khăn được miễn thuế trong suốt thời gian hoạt động, và hoạt động thủy sản ở vùng khó khăn được hưởng thuế suất 10%.

Năm 2025 cơ cấu khác: thu nhập chịu thuế 640,8 tỷ gồm 487,9 tỷ được miễn, 150,0 tỷ chịu 10% và 2,9 tỷ chịu 20%, nên thuế cả năm là 25,0 tỷ trên lợi nhuận trước thuế 411,4 tỷ (6,1%). Chín tháng 2025 cũng chưa có phần 10% (309,1 tỷ trên 310,2 tỷ thu nhập chịu thuế được miễn) và ghi thu nhập thuế 6,2 tỷ, rồi quý IV/2025 ghi chi phí 31,2 tỷ (15,4 tỷ hiện hành và 15,8 tỷ hoãn lại).

Thuế chín tháng 2026 là 0,2% và cũng chưa có phần 10%, đúng như chín tháng 2025, còn quý IV năm trước là kỳ ghi thuế cao nhất. Bài không dự báo thuế quý IV/2026; số thuế cả năm trong BCTC quý IV là điểm cần theo dõi vì nó quyết định phần lợi nhuận sau thuế của cổ đông.

Kế hoạch năm 2026 và cổ tức

Kế hoạch năm 2026 và kết quả chín tháng của cổ phiếu FMC về doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế

Đại hội cổ đông ngày 17/04/2026 thông qua kế hoạch doanh thu thuần hợp nhất 8.000 tỷ đồng (năm 2025: 8.185 tỷ), lợi nhuận trước thuế hợp nhất 452 tỷ (411,4 tỷ) và cổ tức tiền mặt tối thiểu 20% mệnh giá, tức 2.000 đồng. Chín tháng doanh thu đạt 5.599,6 tỷ, bằng 70,0% kế hoạch, còn lợi nhuận trước thuế 453,4 tỷ, bằng 100,3%.

Để đạt kế hoạch doanh thu, quý IV phải có 2.400,4 tỷ, gấp 1,8 lần quý IV/2025 (1.334,8 tỷ theo số công bố gốc). Kế hoạch lợi nhuận đã đạt, nên phần còn lại của năm nằm ở doanh thu và ở thuế. Theo tờ trình, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát được thưởng 2% lợi nhuận sau thuế công ty mẹ nếu hoàn thành kế hoạch lợi nhuận trước thuế hợp nhất, và 5% phần vượt.

Cổ tức năm 2025 là 20% (2.000 đồng một cổ phiếu, 130,8 tỷ), chốt danh sách ngày 12/05/2026 và trả ngày 20/05/2026, ứng với 37,5% EPS năm 2025 (5.332 đồng) và 5,6% giá 36.000 đồng. Chín tháng 2026 công ty chi 147,7 tỷ cổ tức, gồm 17,0 tỷ cho cổ đông không kiểm soát. Bài không dự báo cổ tức năm 2026 ngoài mức tối thiểu 20% đã được thông qua.

Cổ đông và thanh khoản

Cơ cấu sở hữu FMC: Tập đoàn PAN, C.P. Việt Nam, Bến Tre, Văn phòng Thành ủy Sóc Trăng và cổ đông còn lại

Tập đoàn PAN nắm 24,68 triệu cổ phiếu, 37,75% vốn, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam 16,28 triệu cổ phiếu (24,90%), Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre 8,09 triệu cổ phiếu (12,37%) và Văn phòng Thành ủy Sóc Trăng 1,66 triệu cổ phiếu (2,53%). Hồ sơ công ty ghi cổ phiếu tự do chuyển nhượng 20,0% (13,08 triệu cổ phiếu, khoảng 471 tỷ đồng theo giá 36.000), và nhà đầu tư nước ngoài nắm 30,74%.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Hồ Quốc Lực giữ 710.000 cổ phiếu (1,09%) và Tổng giám đốc Mã Ích Hưng giữ 75.400 cổ phiếu (0,12%). Các bên liên quan trong thuyết minh 30 gồm cả ba cổ đông lớn: chín tháng 2026 công ty mua hàng hóa từ C.P. Việt Nam 80,0 tỷ (cùng kỳ 291,7 tỷ), mua từ Công ty TNHH Thủy sản Công nghệ cao Việt Nam, bên liên quan của cổ đông lớn, 30,2 tỷ (48,8 tỷ), và bán hàng cho Bến Tre 3,6 tỷ.

Giá trị khớp trung bình mỗi phiên theo tháng của cổ phiếu FMC trên HOSE

Giá trị khớp trung bình tháng 10/2026 là 1,3 tỷ đồng mỗi phiên, so với đỉnh 6,9 tỷ tháng 02/2026. Khối lượng khớp trung bình 20 phiên là 37.995 cổ phiếu, gấp 1,9 lần trung bình 60 phiên (20.085 cổ phiếu), và phiên 08/10/2026 khớp 125.900 cổ phiếu khi giá tăng từ 33.150 lên 35.450 đồng.

Giá trị khớp 12 tháng tới 30/10/2026 là 411,8 tỷ đồng, bằng 87% giá trị cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Giá tăng từ 36.650 đồng (13/02/2026) lên 42.010 đồng (25/02/2026), tức 14,6% trong ba phiên từ 23/02 đến 25/02/2026, rồi về 35.940 đồng ngày 09/03/2026. Phiên 23/02 là phiên đầu tiên sau phán quyết ngày 20/02/2026 của Tòa án Tối cao Mỹ nêu trong thuyết minh BCTC 2025; số liệu có được không nêu nguyên nhân của nhịp này.

Khối ngoại và tự doanh

Giá trị mua ròng và bán ròng của khối ngoại với cổ phiếu FMC theo quý từ quý IV/2024

Khối ngoại giao dịch ít so với tỷ lệ sở hữu: trong 12 tháng tới 30/10/2026 họ mua 24,8 tỷ đồng và bán 29,6 tỷ, tức bán ròng 4,7 tỷ, và tổng giá trị mua bán 54,4 tỷ bằng 13,2% giá trị khớp (411,8 tỷ). Có 143 phiên bán ròng và 79 phiên mua ròng trong 248 phiên. Khối ngoại nắm 30,74% vốn và còn room 12,60 triệu cổ phiếu (19,26% vốn, khoảng 453 tỷ đồng) theo giới hạn 50%.

Theo quý, khối ngoại mua ròng ba trong chín quý từ quý IV/2024: 6,4 tỷ quý I/2025, 7,8 tỷ quý III/2025 và 4,3 tỷ quý I/2026. Quý II/2026 bán ròng 4,0 tỷ, quý III bán ròng 1,7 tỷ, và quý IV mới tính tới 30/10 bán ròng 2,9 tỷ; 30 phiên gần nhất bán ròng 3,0 tỷ.

Giá cổ phiếu FMC và giá trị ròng luỹ kế của khối ngoại trong 12 tháng

Luỹ kế 12 tháng đạt đỉnh mua ròng 5,3 tỷ đồng ngày 16/03/2026, rồi về âm 4,9 tỷ ngày 23/10/2026 và còn âm 4,7 tỷ tới 30/10, trong khi giá tăng 4,2% (34.560 lên 36.000 đồng). Phiên bán ròng lớn nhất 12 tháng là 22/10/2026 với 2,3 tỷ. Dữ liệu không ghi giao dịch thỏa thuận của khối ngoại trong 12 tháng.

Tự doanh chỉ có dữ liệu đến 22/05/2025: 106 phiên từ 01/2019, luỹ kế bán ròng 0,14 tỷ đồng. Bài không nhận định tự doanh sau mốc này.

So sánh cùng ngành

Bảng so sánh cổ phiếu FMC với sáu mã chế biến thủy sản về P/E, P/B, ROE, EV/EBITDA và đòn bẩy

Nhóm so sánh gồm sáu cổ phiếu chế biến thủy sản niêm yết theo BCTC quý III/2026: VHC, ANV, IDI, CMX, ACL (HOSE) và KHS (HNX). PAN (cổ đông lớn nhất của FMC, không thuộc ngành) và ABT (cổ đông 12,37%, bên liên quan) bị loại, cùng AAM vì vốn hoá chỉ 82 tỷ đồng và EBITDA bốn quý gần bằng 0.

Cổ phiếu FMC có P/E 4,36 lần thấp hơn trung vị 7,09 lần, nhưng P/B 0,92 lần cao hơn trung vị 0,69 lần. ROE 22,8% gấp 2,4 lần trung vị 9,7% và cao nhất nhóm, trên ANV (20,7%), KHS (18,7%) và VHC (12,7%), nhưng P/B của ANV là 1,05 lần và VHC là 1,10 lần. EV/EBITDA là 3,0 lần so với 6,6 lần, vay trên vốn chủ 0,93 lần so với 0,52 lần, và biên gộp bốn quý 14,4% so với 15,3%. Lợi nhuận quý III của FMC tăng 94,0%, còn trung vị nhóm giảm 12,9%.

Biểu đồ P/B theo ROE của cổ phiếu FMC và sáu mã so sánh

Trong nhóm, chỉ FMC, ANV và KHS có ROE trên 18%, và FMC có P/B thấp hơn ANV 12,0% dù ROE cao hơn. Phần chênh này không giải thích được bằng số liệu BCTC; số liệu có được chỉ cho thấy ROE của FMC dựa vào lợi nhuận quý III tăng mạnh, thuế gần bằng 0 và biên gộp cao hơn lịch sử, ba yếu tố bài đã nêu ở trên.

Định giá theo P/E, P/B và DCF

EPS bốn quý là 8.261 đồng, bằng lợi nhuận cổ đông công ty mẹ bốn quý tới quý III/2026 (540,2 tỷ) chia 65,389 triệu cổ phiếu. BVPS là 39.031 đồng, bằng vốn chủ cổ đông công ty mẹ (2.552,2 tỷ) chia số cổ phiếu, nên giá 36.000 đồng thấp hơn sổ sách 7,8%.

P/B hợp lý=ROE−gr−g\text{P/B hợp lý} = \dfrac{\text{ROE} - g}{r - g}

Bài dùng r = 12% và g = 3%, là giả định của HODL.VN. Với DCF năm năm trên số hợp nhất, doanh thu bốn quý là 6.934 tỷ đồng (quý IV/2025 cộng chín tháng 2026 theo BCTC quý III) và thay đổi −5%, 0% hoặc +5% mỗi năm, biên EBIT 4,5%, 6,0% hoặc 8,1% (bốn quý gần nhất là 8,1%, cao nhất từ 2015, còn năm 2025 là 3,9%), thuế 6% (năm 2025: 25,0 tỷ trên 411,4 tỷ), khấu hao bằng chi đầu tư 2,4% doanh thu, vốn lưu động 20% phần doanh thu tăng thêm, WACC 12%.

Giá trị vốn chủ hợp nhất bằng giá trị doanh nghiệp cộng tiền thuần 195,5 tỷ đồng (tiền và tiền gửi 2.956,8 tỷ trừ vay 2.361,8 tỷ và chi phí thuế chống bán phá giá phải trả 399,4 tỷ), rồi phần thuộc cổ đông FMC lấy 91,9%, bằng lợi nhuận mẹ trên lợi nhuận hợp nhất bốn quý.

Bảng mười hai phép định giá FMC theo P/E nhóm, P/B nhóm, P/B hợp lý theo ROE và DCF

Mười hai phép cho giá trị từ 17.561 đến 86.735 đồng, chín phép cao hơn giá 36.000 đồng và ba phép thấp hơn, đều là phép theo P/B: P/B tứ phân vị dưới của nhóm (17.561 đồng, thấp hơn giá 51,2%), P/B trung vị (26.984 đồng, 25,0%) và P/B hợp lý với ROE bền vững 10% (30.357 đồng, 15,7%). P/E trung vị nhóm cho 58.535 đồng, cao hơn giá 62,6%, còn DCF kịch bản cơ sở cho 58.285 đồng, cao hơn 61,9%.

P/B hợp lý theo ROE 23% cho 86.735 đồng, nhưng giá 36.000 đồng tương ứng ROE bền vững chỉ khoảng 11,3%, so với 22,8% hiện tại. Nếu doanh thu không tăng, giá hiện tại tương ứng biên EBIT khoảng 3,6%, gần mức 3,9% của năm 2025 và thấp hơn nhiều so với 8,1% của bốn quý gần nhất.

Lưới độ nhạy DCF kịch bản cơ sở của FMC theo WACC và tăng trưởng dài hạn

DCF cơ sở cho 58.285 đồng, và cả mười lăm ô trong lưới độ nhạy, từ 45.906 đến 82.783 đồng, đều cao hơn giá. Biên EBIT là giả định nhạy nhất: kịch bản thấp (doanh thu giảm 5% mỗi năm, biên 4,5%) vẫn cho 44.777 đồng, nhưng kết quả chưa tính phần chênh nếu kết luận POR 20 khác 10,76% và chưa tính rủi ro mùa vụ của tôm tự nuôi.

Thang giá tham chiếu

Giá FMC 36.000 đồng, ba phép định giá thấp hơn và chín phép cao hơn

Thang giá xếp các phép theo giá trị, kèm đỉnh đóng cửa 52 tuần 42.010 đồng (25/02/2026), đáy đóng cửa 32.400 đồng (21/09/2026) và giá trị sổ sách 39.031 đồng. Giá nằm giữa đáy 52 tuần ở dưới và đỉnh 52 tuần ở trên, lần lượt thấp hơn giá 10,0% và cao hơn giá 16,7%.

Phép gần giá nhất là P/B tứ phân vị trên của nhóm (37.747 đồng), cao hơn giá 4,9% và thấp hơn đỉnh 52 tuần 10,1%; ba phép thấp hơn giá nằm từ 30.357 xuống 17.561 đồng. Tám trong chín phép cao hơn giá còn cao hơn cả đỉnh 52 tuần 42.010 đồng.

Phân tích kỹ thuật

Biểu đồ tuần của cổ phiếu FMC đi ngang trong vùng 32.300 đến 38.210 đồng từ giữa năm 2025, trừ nhịp tăng cuối tháng 02/2026 lên 43.380 đồng và dư âm của nó trong tháng 03. Từ đầu năm FMC tăng 7,8% trong khi VN-Index giảm 2,4%, 250 phiên tăng 6,5% so với VN-Index tăng 3,6%, và 20 phiên gần nhất tăng 9,8% so với VN-Index tăng 0,2%, nhưng 120 phiên giá không đổi (0,0%) khi VN-Index giảm 8,4%.

Hỗ trợ - Kháng cự

Biểu đồ tuần FMC: kháng cự 43.380 đến 44.200 và 37.550 đến 38.210, hỗ trợ 33.760 đến 34.370 và 32.300 đến 33.000, hai đường xu hướng

Các vùng dưới đây tính từ giá cao và giá thấp của nến tuần, cửa sổ từ 09/2022. Mỗi vùng chứa các đỉnh hoặc đáy swing (cực trị trong ±3 tuần).

Vùng giá (đồng)

Loại

Ý nghĩa

43.380 tới 44.200

Kháng cự xa

Năm đỉnh tuần 11/08/2023 (44.090), 15/03/2024 (44.090), 18/10/2024 (44.020), 06/12/2024 (44.200) và 27/02/2026 (43.380); cao hơn giá 20,5% đến 22,8%

37.550 tới 38.210

Kháng cự gần

Năm đỉnh tuần 30/05/2025 (37.930), 04/07/2025 (38.210), 08/08/2025 (38.070), 19/09/2025 (37.550) và 24/04/2026 (37.550); cao hơn giá 4,3% đến 6,1%

33.760 tới 34.370

Hỗ trợ gần

Đáy tuần 29/08/2025 (34.370), 27/03/2026 (33.760) và 29/05/2026 (34.250); thấp hơn giá 4,5% đến 6,2%

32.300 tới 33.000

Hỗ trợ kế tiếp

Năm đáy tuần 24/10/2025 (33.000), 21/11/2025 (32.380), 26/12/2025 (32.900), 31/07/2026 (33.000) và 25/09/2026 (32.300); thấp hơn giá 8,3% đến 10,3%

Giá đang nằm giữa kháng cự gần 37.550 đến 38.210 đồng và hỗ trợ gần 33.760 đến 34.370 đồng, và gần đường xu hướng tăng nối đáy tuần 17/02/2023 (28.170 đồng), 23/05/2025 (31.620 đồng), 21/11/2025 (32.380 đồng) và 31/07/2026 (33.000 đồng), đi qua khoảng 33.353 đồng, thấp hơn giá 7,4%. Nếu giá đóng cửa tuần dưới đường này và dưới vùng 33.760, mốc kế tiếp phía dưới là vùng 32.300 đến 33.000 đồng.

Phía trên, đường xu hướng giảm nối đỉnh tuần 31/05/2024 (47.610 đồng), 14/03/2025 (45.100 đồng) và 27/02/2026 (43.380 đồng) đi qua khoảng 41.717 đồng, cao hơn giá 15,9%, và dưới đó là hai vùng kháng cự 37.550 đến 38.210 và 43.380 đến 44.200 đồng. Đỉnh 52 tuần (đóng cửa) là 42.010 đồng ngày 25/02/2026, đáy 52 tuần là 32.400 đồng ngày 21/09/2026; đỉnh chu kỳ từ 09/2022 là 47.250 đồng ngày 27/05/2024 và đáy chu kỳ là 24.710 đồng ngày 16/11/2022.

Fibonacci

Giá FMC tuần kèm các mức Fibonacci của nhịp giảm từ đỉnh tháng 02/2026 xuống đáy tháng 09/2026

Fibonacci kéo theo giá đóng cửa cho nhịp giảm từ đỉnh 42.010 đồng ngày 25/02/2026 xuống đáy 32.400 đồng ngày 21/09/2026, vẽ trên nến tuần. Các mức hồi từ đáy lên là 23,6% (34.668 đồng), 38,2% (36.071 đồng), 50% (37.205 đồng), 61,8% (38.339 đồng) và 78,6% (39.953 đồng).

Giá 36.000 đồng đã hồi 37,5% nhịp giảm, tức nằm sát mức 38,2% (thấp hơn mức này 0,2%) và trên mức 23,6% 3,8%. Vùng kháng cự gần 37.550 đến 38.210 đồng nằm giữa mức 50% và mức 61,8%.

Xu hướng EMA

Giá FMC nến tuần kèm EMA10, EMA20, EMA50, EMA100, EMA200 tuần

Giá 36.000 đồng nằm trên ba đường EMA ngắn và trung hạn và sát hai đường dài hạn: EMA10 ở 34.755, EMA20 ở 34.623, EMA50 ở 35.128, EMA100 ở 36.130 và EMA200 ở 36.123 đồng. Giá cao hơn EMA10 3,6%, EMA20 4,0%, EMA50 2,5%, và thấp hơn EMA100 0,4% và EMA200 0,3%.

EMA50 tuần cắt xuống EMA200 ngày 21/11/2025, còn EMA20 cắt xuống EMA50 ngày 04/04/2025 và vẫn nằm dưới EMA50. EMA100 và EMA200 gần như trùng nhau ở 36.123 đến 36.130 đồng, cao hơn giá chưa tới 0,4%.

RSI và động lượng

RSI(14) tuần của FMC ở 57,9, cắt xuống dưới 70 tuần 06/03/2026

RSI(14) tuần ở 57,9, trên mức 50 và xa vùng quá mua, sau khi đạt 61,4 tuần 23/10/2026 từ 35,8 trong ba tuần 18/09 tới 02/10/2026. Từ đầu 2025 RSI chỉ trên 70 một tuần, ở 76,0 tuần 27/02/2026, rồi cắt xuống dưới 70 tuần 06/03/2026 (62,6); RSI thấp nhất là 23,3 tuần 18/04/2025 và lần gần nhất dưới 30 là tuần 16/05/2025.

MACD tuần của FMC ở âm 19, vừa cắt lên đường tín hiệu âm 358 tuần 09/10/2026

MACD tuần cắt lên đường tín hiệu ngày 09/10/2026 và hiện ở âm 19, trên tín hiệu âm 358, histogram dương 338. Lần cắt xuống trước đó là ngày 15/05/2026, nên động lượng tăng mới được khoảng ba tuần.

Lịch sự kiện cần theo dõi

Thời điểm

Sự kiện

Vì sao quan trọng

Khoảng tháng 11/2026

Kết quả cuối cùng POR 20 của Bộ Thương mại Mỹ

Công ty trích 10,76% cho hai khoản 357,7 tỷ tại 30/06/2026; mỗi 1% thuế suất khoảng 33 tỷ

Từ 10/10/2026 tới 30/03/2027

Đáo hạn vay ngắn hạn 2.361,8 tỷ

Tiền và tiền gửi 2.956,8 tỷ, nhưng 618,7 tỷ vay thế chấp bằng tiền gửi

Tháng 01/2027

BCTC quý IV/2026 và cả năm 2026

Thuế thu nhập cả năm, doanh thu so với kế hoạch 8.000 tỷ (cần 2.400,4 tỷ quý IV)

Các quý tới

Thành phẩm tồn kho 1.036,8 tỷ và tôm đang nuôi 197,8 tỷ

Tiêu thụ chín tháng giảm 14,7% trong khi chế biến không đổi

Các tuần tới

Giá đóng cửa tuần so với 37.550 đến 38.210 và 33.760 đến 34.370 đồng

Giá đang nằm giữa kháng cự gần và hỗ trợ gần

Quý II/2027

Đại hội cổ đông thường niên 2027

Kế hoạch 2027 và cổ tức 2026, mức tối thiểu 2.000 đồng đã được thông qua

Kết luận

Cổ phiếu FMC ghi nhận lợi nhuận cổ đông mẹ 188,5 tỷ đồng quý III/2026, tăng 94,0%, khi doanh thu thuần giảm 10,1%, nhờ biên lãi gộp lên 16,7% theo giải thích của công ty về tôm tự nuôi vụ 2/2026. Lợi nhuận trước thuế chín tháng đã đạt kế hoạch năm, nhưng thuế chỉ 0,2% lợi nhuận và quý IV năm 2025 từng ghi 31,2 tỷ.

Điểm yếu nằm ở dòng tiền, bảng cân đối và rủi ro thuế Mỹ. Dòng tiền kinh doanh chín tháng âm 43,7 tỷ khi tồn kho, phải thu và vay cùng tăng, và chi phí phải trả thuế chống bán phá giá 399,4 tỷ phụ thuộc kết quả POR 20 dự kiến khoảng tháng 11/2026. Về giá, P/E 4,36 lần thấp hơn trung vị 7,09 lần nhưng P/B 0,92 lần cao hơn trung vị 0,69 lần, chín trong mười hai phép định giá cao hơn giá, và Tập đoàn PAN, C.P. Việt Nam và Bến Tre nắm 75,0% vốn. Về kỹ thuật, giá nằm giữa kháng cự gần 37.550 đến 38.210 đồng và hỗ trợ gần 33.760 đến 34.370 đồng.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/10/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…