Tỷ lệ nước thất thoát: chỉ số đặc thù đo hiệu quả của một công ty nước
Nội dung bài7 phần
Tỷ lệ nước thất thoát: chỉ số đặc thù đo hiệu quả của một công ty nước
Tỷ lệ thất thoát nước là phần nước đã sản xuất nhưng không thu được tiền. Nước rò ở đường ống, nước dùng cho vệ sinh mạng, nước bị lấy không qua đồng hồ đều nằm trong phần đó.
Chỉ số này không có trong bốn báo cáo chính, nhưng nó quyết định phần lớn biên lợi nhuận của một doanh nghiệp nước. Dữ liệu trong bài đến 02/10/2026.
Tỷ lệ thất thoát nước đo cái gì

Doanh nghiệp bơm nước thô, xử lý, rồi đẩy vào mạng ống. Lượng nước đi vào mạng gọi là nước sản xuất. Lượng nước có hoá đơn gọi là nước thương phẩm.
Phần chênh giữa hai con số đó là nước thất thoát. Chia phần chênh cho lượng nước sản xuất ra tỷ lệ thất thoát.
Giả sử một nhà máy đẩy 100 mét khối vào mạng và bán được 85 mét khối. Tỷ lệ thất thoát là 15%. Phần 15 mét khối còn lại đã tốn điện, hoá chất và nước thô, nhưng không mang về đồng nào.
Đó là lý do chỉ số này quan trọng hơn ở ngành nước so với các ngành khác. Ở nhà máy thường, hàng hỏng còn bán thanh lý được. Nước mất thì mất hẳn.
Mức tối đa được tính vào giá nước
Nhà nước không bắt doanh nghiệp chịu hết phần thất thoát, nhưng cũng không cho tính hết vào giá.
Thông tư 44/2021/TT-BTC ngày 18/06/2021 của Bộ Tài chính cho tính tối đa 20% thất thoát khi xác định sản lượng nước thương phẩm trong phương án giá. Thông tư đồng thời đặt lộ trình giảm, để tới năm 2025 mức tối đa đưa vào phương án giá còn 15%.
Đơn vị cấp nước có tỷ lệ thất thoát thực tế và tỷ lệ đã được duyệt dưới 15% từ trước năm 2025 thì được giữ tỷ lệ đã duyệt trong ba năm.
Tỷ lệ cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt cùng phương án giá, theo điều kiện kỹ thuật thực tế của địa phương và không vượt mức tối đa nói trên.
Hệ quả rất cụ thể. Doanh nghiệp để thất thoát cao hơn tỷ lệ đã duyệt thì phần vượt đó tự chịu. Doanh nghiệp giảm được xuống dưới tỷ lệ đã duyệt thì phần tiết kiệm đó thành lợi nhuận.
Giảm 5 điểm % thất thoát được gì

Phép tính dưới đây cho thấy vì sao ban lãnh đạo nhóm nước nói về chỉ số này nhiều hơn nói về doanh thu.
Cùng 100 mét khối nước sản xuất. Ở mức thất thoát 20%, doanh nghiệp bán được 80 mét khối. Ở mức 15%, bán được 85 mét khối. Sản lượng thương phẩm tăng 6,25% mà không cần xây thêm nhà máy.
Phần quan trọng nằm ở chi phí. Điện, hoá chất và nước thô đã tốn cho cả 100 mét khối ngay từ đầu. Nên 5 mét khối bán thêm gần như không kéo theo chi phí mới.
Đặt vào một quy mô thật để dễ hình dung. Tổng công ty nước môi trường Bình Dương có doanh thu 4.551 tỷ đồng trong bốn quý tới quý 2/2026. Mức 6,25% doanh thu tương đương 284 tỷ đồng. Đây là phép mô phỏng, không phải con số doanh nghiệp đã công bố.
So sánh với lãi gộp bốn quý của chính công ty, 2.067 tỷ đồng, thì phần mô phỏng đó bằng khoảng một phần bảy. Không có khoản tiết kiệm chi phí nào khác trong ngành đổi được nhiều như vậy.
Tỷ lệ thất thoát nước ngoài BCTC

Đây là điểm vướng lớn nhất khi phân tích. Bảng cân đối và báo cáo kết quả kinh doanh không có dòng nào ghi sản lượng.
Nguồn đúng là báo cáo thường niên, nghị quyết đại hội cổ đông và bản công bố thông tin của doanh nghiệp. Ở đó doanh nghiệp ghi sản lượng nước sản xuất, sản lượng thương phẩm và tỷ lệ thất thoát của từng năm.
Từ báo cáo tài chính chỉ suy được dấu hiệu gián tiếp. Biên lợi nhuận gộp là dấu hiệu rõ nhất. Hai doanh nghiệp cùng loại đô thị, cùng mức giá duyệt, mà biên gộp lệch nhau nhiều thì nguyên nhân thường nằm ở thất thoát hoặc ở chỗ một bên phải mua nước buôn.
Dấu hiệu thứ hai là mức đầu tư. Doanh nghiệp đang thay ống mạnh sẽ có mua sắm tài sản cố định lớn hơn khấu hao nhiều lần.
Bốn quý tới quý 2/2026, Tổng công ty nước môi trường Bình Dương chi 1.663 tỷ đồng mua sắm tài sản cố định, trong khi khấu hao chỉ 659 tỷ. Cấp nước Đồng Nai chi 165 tỷ trên khấu hao 231 tỷ. Nước Thủ Dầu Một chi 215 tỷ trên khấu hao 93 tỷ.
Tỷ lệ thất thoát nước khó giảm
Phần lớn thất thoát đến từ đường ống cũ, mối nối kém và áp lực mạng không đều. Muốn giảm thì phải đào đường, thay ống, lắp đồng hồ tổng theo khu vực.
Ba việc đó là đầu tư dài hạn, không phải chi phí trong kỳ. Tiền ra ngay, nhưng vào tài sản cố định rồi khấu hao dần qua nhiều năm.
Vì vậy một doanh nghiệp đang hạ thất thoát thường có hai năm xấu đi trước khi tốt lên. Lưu chuyển tiền từ đầu tư âm nặng, nợ vay tăng, lợi nhuận bị khấu hao mới ăn vào.
Nhìn một năm thì thấy doanh nghiệp đang tệ. Nhìn năm năm mới thấy đường cong. Đây là nhóm phải đọc theo chuỗi dài, giống cách tiếp cận với cổ phiếu phòng thủ.
So hai doanh nghiệp nước
Ba quy tắc giúp phép so không bị lệch.
- So cùng loại đô thị. Mạng ống trong đô thị đặc biệt dài và cũ hơn mạng ở đô thị loại 4, nên mức thất thoát tự nhiên khác nhau.
- So tỷ lệ thực tế với tỷ lệ đã được tỉnh duyệt, không so tỷ lệ thực tế của hai tỉnh khác nhau. Phần chênh so với tỷ lệ duyệt mới là phần doanh nghiệp được hưởng hoặc phải chịu.
- Nhìn xu hướng ba đến năm năm. Một năm giảm mạnh có thể do đổi cách đo, không do mạng ống tốt hơn.
Chỉ số này đi cùng ba thước đo khác khi đọc nhóm nước: biên lợi nhuận gộp, khấu hao trên doanh thu và nợ vay trên vốn chủ. Thuật ngữ trong thuyết minh tra ở danh sách thuật ngữ báo cáo tài chính.
Muốn ôn lại cấu trúc một bộ báo cáo trước khi đọc, xem cấu trúc báo cáo tài chính.
Nội dung trên để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 29/10/2026
Bắt đầu đầu tư
Mở tài khoản chứng khoán
Đặt lệnh, theo dõi danh mục và nhận cổ tức trên một ứng dụng. Mở trực tuyến, không cần ra quầy.