Trái phiếu ngân hàng là gì
Nội dung bài6 phần
Trái phiếu ngân hàng là gì? Đó là loại chứng khoán nợ do ngân hàng thương mại phát hành để vay tiền của nhà đầu tư. Ngân hàng cam kết trả lãi định kỳ và hoàn gốc khi đáo hạn.
Điểm chính
- Ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn trung dài hạn và để bổ sung vốn tự có qua nợ thứ cấp.
- Trái phiếu ngân hàng không phải tiền gửi, không được bảo hiểm tiền gửi. Người mua chịu rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Cổ phiếu TCB cuối Q3/2026 có giấy tờ có giá đã phát hành 237.047 tỷ đồng, bằng 21,2% nợ phải trả.
Trái phiếu ngân hàng
Ngân hàng thường huy động vốn bằng tiền gửi. Tiền gửi có thể rút nhanh, trong khi khoản vay trung dài hạn kéo dài nhiều năm. Trái phiếu giải quyết lệch kỳ hạn này, vì nhà đầu tư cam kết giữ vốn đến ngày đáo hạn.

Có hai nhóm chính. Trái phiếu thông thường dùng huy động vốn cho hoạt động cho vay. Trái phiếu thứ cấp, hay nợ thứ cấp, có thể được tính vào vốn cấp 2 nếu đáp ứng điều kiện của Ngân hàng Nhà nước. Loại thứ hai có thứ tự trả nợ thấp hơn tiền gửi nên lãi suất thường cao hơn.
Nhà đầu tư mua trái phiếu nhận lãi coupon định kỳ. Một số trái phiếu ngân hàng có lãi thả nổi, thường cộng một biên độ vào lãi suất tiền gửi tham chiếu. Trái phiếu có thể phát hành ra công chúng hoặc riêng lẻ cho nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Khung chung cho trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ nay nằm ở Nghị định 200/2026/NĐ-CP ngày 05/06/2026, thay thế các nghị định trước đó. Tổ chức tín dụng còn chịu quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước. Quy định riêng này nói về điều kiện phát hành và nợ thứ cấp. Cần xem văn bản hiện hành trước khi mua.
Hai công thức nền tảng:
Giấy tờ có giá trên bảng cân đối gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ nợ khác. Báo cáo tóm tắt không tách riêng trái phiếu.
Ví dụ trái phiếu ngân hàng của TCB
Cổ phiếu TCB có BCTC hợp nhất đến Q3/2026, dữ liệu đến ngày 30/09/2026. Bài dùng dòng phát hành giấy tờ có giá làm số thật, kèm giả định về lãi suất.
Kỳ | Giấy tờ có giá | Nợ phải trả | Tỷ trọng |
|---|---|---|---|
Cuối 2024 | 140.422 tỷ đồng | 830.859 tỷ đồng | 16,9% |
Cuối 2025 | 215.330 tỷ đồng | 1.012.843 tỷ đồng | 21,3% |
Q1/2026 | 217.897 tỷ đồng | 1.003.771 tỷ đồng | 21,7% |
Q2/2026 | 212.080 tỷ đồng | 1.084.080 tỷ đồng | 19,6% |
Q3/2026 | 237.047 tỷ đồng | 1.120.841 tỷ đồng | 21,2% |
Từ cuối năm 2025 đến cuối quý III/2026, giấy tờ có giá tăng 10,1%, trong khi tiền gửi khách hàng tăng 6,9% từ 618.912 lên 661.390 tỷ đồng. Giấy tờ có giá bằng 35,8% tiền gửi khách hàng cuối quý III. Ngân hàng dựa vào kênh này khá nhiều để bù nhu cầu vốn.
Giả sử toàn bộ số giấy tờ có giá chịu lãi bình quân 6,0% một năm. Đây là giả định, không phải số công bố của TCB. Chi phí lãi mỗi năm sẽ là khoảng 14.223 tỷ đồng. Chi phí lãi quý III/2026 của ngân hàng là 13.876 tỷ đồng, tương đương 55.504 tỷ đồng một năm. Như vậy kênh giấy tờ có giá chiếm khoảng 25,6% tổng chi phí lãi.
Một đợt phát hành cụ thể cho thấy cách tính lãi:
Giả định | Giá trị |
|---|---|
Quy mô phát hành | 5.000 tỷ đồng |
Lãi suất coupon | 6,5% một năm |
Lãi coupon mỗi năm = 5.000 × 6,5% | 325 tỷ đồng |
Chênh lệch so với huy động tiền gửi 5,0% | 75 tỷ đồng mỗi năm |
Phần chênh 75 tỷ đồng mỗi năm là cái giá ngân hàng trả cho vốn dài hạn ổn định. Với người mua, khoản này là phần bù cho rủi ro tín dụng và thanh khoản. Tham chiếu: lãi suất liên ngân hàng 3 tháng kỳ 10/2026 là 7,23%.
Đọc chỉ số thế nào
Tỷ trọng giấy tờ có giá cao cho thấy ngân hàng huy động nhiều từ thị trường vốn. Điều này giúp kéo dài kỳ hạn nguồn vốn, nhưng chi phí thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn. Nên xem cùng tỷ lệ CASA và biên lãi ròng.

Với nhà đầu tư mua trái phiếu, cần xem bốn điểm. Thứ nhất là hệ số an toàn vốn và chất lượng tài sản của ngân hàng. Thứ hai là thứ tự ưu tiên thanh toán: trái phiếu thứ cấp xếp sau tiền gửi và trái phiếu thông thường. Thứ ba là kỳ hạn và quyền mua lại sớm. Thứ tư là thanh khoản giao dịch thứ cấp.
Ngân hàng có thể mua lại trái phiếu trước hạn theo điều khoản phát hành. Khi lãi suất thị trường giảm, ngân hàng thường muốn mua lại để phát hành đợt mới rẻ hơn.
Giới hạn khi dùng chỉ số
Thứ nhất, giấy tờ có giá không chỉ có trái phiếu. Chứng chỉ tiền gửi cũng nằm trong dòng này, nên số liệu lớn hơn lượng trái phiếu thực.

Thứ hai, lãi suất 6,0% và 6,5% trong bài là giả định minh hoạ. Mỗi đợt phát hành có lãi suất riêng theo kỳ hạn và loại.
Thứ ba, trái phiếu ngân hàng không phải tiền gửi. Giá có thể giảm khi lãi suất tăng, và nhà đầu tư không có bảo hiểm tiền gửi.
Câu hỏi thường gặp
Trái phiếu ngân hàng có an toàn hơn trái phiếu doanh nghiệp không?
Không có kết luận chung. Rủi ro phụ thuộc năng lực tài chính của ngân hàng phát hành và thứ tự thanh toán của loại trái phiếu. Cần đọc điều khoản từng đợt.
Trái phiếu thứ cấp khác trái phiếu thường ở đâu?
Trái phiếu thứ cấp trả sau các khoản nợ thông thường khi ngân hàng mất khả năng thanh toán. Đổi lại, lãi suất cao hơn và có thể được tính vào vốn cấp 2.
Mua trái phiếu ngân hàng ở đâu?
Có thể mua khi ngân hàng phát hành ra công chúng hoặc riêng lẻ. Người mua cần đọc bản công bố thông tin và các điều kiện hạn chế chuyển nhượng.
Bài liên quan
Cách tính giá trái phiếu nằm ở bài học định giá trái phiếu. Rủi ro không trả được nợ của người phát hành nằm ở bài rủi ro vỡ nợ trái phiếu. Cách đọc bảng cân đối ngân hàng nằm ở bài bảng cân đối ngân hàng. Ví dụ trong bài chỉ để minh hoạ cách tính, không phải khuyến nghị đầu tư.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/09/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.