Kiến thức
Quyền mua cổ phiếu là gì
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 15/10/2026
Quyền mua cổ phiếu là gì, giá trị quyền và giá lý thuyết sau phát hành tính ra sao, kèm ví dụ số thật của cổ phiếu POW với tỷ lệ 100:12 và giá 10.000 đồng.

Nội dung bài6 phần
Quyền mua cổ phiếu là gì? Đó là quyền của cổ đông hiện hữu được ưu tiên mua cổ phiếu mới của doanh nghiệp theo một tỷ lệ và mức giá định trước, thường thấp hơn giá thị trường.
Quyền mua cổ phiếu và khái niệm gần

Khái niệm dễ nhầm nhất với quyền mua là cổ phiếu thưởng: cả hai đều đến với cổ đông hiện hữu, nhưng một bên phải nộp tiền còn bên kia thì không. Cổ đông nhận số quyền bằng số cổ phiếu đang giữ vào ngày đăng ký cuối cùng. Tỷ lệ 100:12 nghĩa là cứ 100 cổ phiếu có quyền mua 12 cổ phiếu mới.
Gọi n là số cổ phiếu mới trên mỗi cổ phiếu cũ (100:12 thì n = 0,12), K là giá phát hành, P là giá thị trường trước ngày giao dịch không hưởng quyền.
Trong đó: P sau là giá lý thuyết sau điều chỉnh, bình quân gia quyền giữa giá thị trường và giá phát hành. Giá trị quyền cho biết phần giá cổ phiếu bị giảm đi. Ai mua theo quyền hoặc bán quyền đều giữ nguyên giá trị tài sản. Giá tham chiếu giảm vào ngày giao dịch không hưởng quyền vì người mua từ ngày đó không còn quyền mua giá thấp.
Số tiền phải nộp khi mua hết quyền bằng số quyền nhân tỷ lệ nhân giá phát hành. Giá trị này khác giá tham chiếu của cổ phiếu và được doanh nghiệp công bố trong phương án phát hành.
Giống nhau
Quyền mua và cổ phiếu thưởng đều dành cho cổ đông hiện hữu theo số cổ phiếu đang giữ vào ngày đăng ký cuối cùng. Cả hai làm số cổ phiếu tăng, và giá tham chiếu được điều chỉnh xuống từ ngày giao dịch không hưởng quyền. Cổ phiếu POW có cả hai đợt cùng ngày giao dịch không hưởng quyền, như ví dụ phía dưới.
Quyền mua khác cổ phiếu thưởng

Tiêu chí | Quyền mua | Cổ phiếu thưởng |
|---|---|---|
Cổ đông phải nộp tiền | Có, theo giá phát hành | Không |
Vốn chủ sở hữu | Tăng, vì tiền vào doanh nghiệp | Không đổi, chỉ chuyển nội bộ trong vốn chủ |
Cổ đông không làm gì | Tỷ lệ sở hữu giảm, quyền có thể chuyển nhượng hoặc hết hạn | Nhận đủ cổ phiếu, tỷ lệ sở hữu không đổi |
Mục đích | Huy động vốn mà không đưa cổ đông mới vào | Tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn sẵn có |
Mua mới phải nộp tiền theo giá phát hành. Không mua thì tỷ lệ sở hữu giảm, còn quyền thường được phép chuyển nhượng theo phương án phát hành.
Cùng một mã POW

Cổ phiếu POW có ngày giao dịch không hưởng quyền 10/12/2025, chào bán cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ 100:12, giá 10.000 đồng một cổ phiếu. Ngày đó còn có đợt thưởng cổ phiếu 19% (15% cổ phiếu thưởng và 4% cổ tức bằng cổ phiếu), ví dụ này tách riêng phần quyền mua.
Cuối Q3/2025, vốn góp là 23.418,7 tỷ đồng. Đến Q1/2026, vốn góp là 30.678,5 tỷ đồng.
Bước | Số liệu |
|---|---|
Số cổ phiếu cơ sở = 23.418,7 tỷ / 10.000 | 2.341,87 triệu |
Cổ phiếu mới = 2.341,87 triệu × 12% | 281,02 triệu |
Tiền huy động = 281,02 triệu × 10.000 | 2.810,2 tỷ đồng |
Vốn góp tăng thêm Q4/2025 đến Q1/2026 do quyền mua | 2.810,2 tỷ đồng |
Vốn chủ cổ đông công ty mẹ Q3/2025 | 33.742,2 tỷ đồng |
Giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu trước phát hành | 14.408 đồng |
Giá trị sổ sách sau phát hành = (33.742,2 + 2.810,2) / 2.622,89 triệu | 13.936 đồng |
Vốn góp tăng đúng 2.810,2 tỷ đồng nên toàn bộ số quyền đã được thực hiện. Vì giá phát hành 10.000 đồng thấp hơn giá trị sổ sách 14.408 đồng, giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu giảm 3,3%, từ 14.408 xuống 13.936 đồng, chưa tính lợi nhuận phát sinh.
Giá thị trường không lấy từ dữ liệu vì giá cũ đã điều chỉnh theo các đợt chia sau đó. Để minh hoạ, giả định giá trước ngày giao dịch không hưởng quyền là 15.000 đồng, đây là GIẢ ĐỊNH.
Bước (GIẢ ĐỊNH P = 15.000) | Số liệu |
|---|---|
Giá lý thuyết sau = (15.000 + 0,12 × 10.000) / 1,12 | 14.464 đồng |
Giá trị một quyền = 15.000 − 14.464 | 536 đồng |
Giữ 1.000 cổ phiếu có 120 quyền, tiền mua 120 × 10.000 | 1.200.000 đồng |
Giá trị sau mua = 1.120 × 14.464 − 1.200.000 | khoảng 15.000.000 đồng |
Người mua đủ giữ nguyên giá trị 15 triệu đồng. Người không mua và không bán quyền có 1.000 cổ phiếu trị giá 14,46 triệu đồng, hụt khoảng 536.000 đồng so với trước.
Khi nào dùng cái nào
Doanh nghiệp dùng quyền mua để huy động vốn mà không đưa cổ đông mới vào, giữ tỷ lệ sở hữu cho người hiện hữu. Cổ phiếu thưởng phù hợp khi chỉ muốn tăng vốn điều lệ từ nguồn sẵn có mà không cần tiền mới. Mục đích tiền huy động được nêu trong phương án phát hành, cần đọc xem dùng để trả nợ, đầu tư dự án hay bổ sung vốn lưu động. Tiền vào doanh nghiệp làm vốn chủ tăng, khác với cổ phiếu thưởng chỉ chuyển nội bộ trong vốn chủ.
Giá phát hành càng thấp so với giá thị trường thì quyền càng có giá trị, nhưng giá lý thuyết sau phát hành cũng thấp hơn. Cái được và cái mất bù nhau với người mua đủ.
Thứ nhất, nếu giá thị trường thấp hơn giá phát hành, quyền không còn giá trị và cổ đông không nên mua. Phương án phát hành không bảo đảm có lợi.
Thứ hai, ví dụ giá trị quyền phụ thuộc giả định giá. Giá thực tế biến động quanh ngày giao dịch không hưởng quyền, nên giá trị quyền thực khác lý thuyết.
Thứ ba, quyền có thời hạn. Quá hạn đăng ký hoặc nộp tiền thì mất quyền mua. Cần đọc thông báo để biết thời hạn nộp tiền, việc quyền có được chuyển nhượng hay không và ngày cổ phiếu về tài khoản.
Điểm chính
- Cổ đông nhận số quyền bằng số cổ phiếu đang giữ vào ngày đăng ký cuối cùng. Tỷ lệ 100:12 nghĩa là cứ 100 cổ phiếu có quyền mua 12 cổ phiếu mới.
- Mua mới phải nộp tiền theo giá phát hành. Không mua thì tỷ lệ sở hữu giảm, còn quyền thường được phép chuyển nhượng theo phương án phát hành.
- Giá lý thuyết sau phát hành là bình quân gia quyền giữa giá thị trường và giá phát hành, nên giá tham chiếu giảm.
Bài liên quan
Khái niệm cổ phiếu và quyền của cổ đông nằm ở cổ phiếu là gì, cổ phần là gì. Cách đọc các mốc ngày trong thông báo xem ở đọc hiểu thông báo chi trả cổ tức, còn cách doanh nghiệp tính giá trị trước và sau phát hành gần với định giá chứng khoán là gì. Ví dụ trên chỉ để minh hoạ cách tính, không phải khuyến nghị đầu tư.
Bắt đầu đầu tư
Mở tài khoản chứng khoán
Đặt lệnh, theo dõi danh mục và nhận cổ tức trên một ứng dụng. Mở trực tuyến, không cần ra quầy.
