Phương pháp tính giá xuất kho là gì

Triều Tô5 phút đọc
Nội dung bài7 phần
  1. Phương pháp tính giá xuất kho
  2. Phương pháp tính giá xuất kho FIFO
  3. Phương pháp tính giá bình quân
  4. Ví dụ phương pháp tính giá xuất kho
  5. Số thật của MWG
  6. Giới hạn khi so sánh doanh nghiệp
  7. Câu hỏi thường gặp

Phương pháp tính giá xuất kho là gì? Đó là cách doanh nghiệp xác định giá trị của hàng đã xuất bán để ghi vào giá vốn, khi các lô hàng nhập vào có đơn giá khác nhau. Hai cách hay gặp là nhập trước xuất trước (FIFO) và bình quân gia quyền.

Điểm chính

  • Cách tính giá xuất kho quyết định phần giá trị đi vào giá vốn hàng bán và phần còn lại ở hàng tồn kho.
  • Khi giá nhập biến động, FIFO và bình quân gia quyền cho giá vốn, lợi nhuận gộp và tồn kho cuối kỳ khác nhau.
  • Doanh nghiệp phải áp dụng nhất quán và nêu phương pháp trong thuyết minh, người đọc cần biết để so sánh.

Phương pháp tính giá xuất kho

Một cửa hàng nhập cùng loại hàng nhiều đợt với đơn giá khác nhau. Khi bán, hàng nằm lẫn trong kho nên khó biết món nào thuộc lô nào. Kế toán cần một quy ước để quy đổi số lượng xuất ra tiền.

Minh họa Phương pháp tính giá xuất kho: cảnh quầy thuế và phòng kế toán

Quy ước này ảnh hưởng trực tiếp đến giá vốn hàng bán trong báo cáo kết quả kinh doanh và hàng tồn kho trong bảng cân đối. Giá vốn tăng một đồng thì lợi nhuận gộp giảm một đồng, đồng thời hàng tồn kho giảm một đồng. Tổng giá trị hàng sẵn sàng bán được chia giữa hai nơi, và phương pháp chọn quyết định tỷ lệ chia.

Phương pháp tính giá xuất kho FIFO

Phương pháp nhập trước xuất trước giả định hàng nhập trước được xuất trước. Giá vốn lấy theo đơn giá các lô cũ, còn hàng tồn cuối kỳ mang đơn giá các lô mới nhất.

Khi giá nhập tăng đều, giá vốn theo FIFO thấp hơn, lợi nhuận gộp cao hơn, tồn kho trên bảng cân đối sát giá thị trường hiện tại hơn. Khi giá nhập giảm, kết quả đảo chiều.

Phương pháp tính giá bình quân

Phương pháp bình quân gia quyền tính một đơn giá trung bình cho toàn bộ hàng sẵn sàng bán:

Đơn giá bình quân=Giá trị tồn đầu kỳ+Giá trị nhập trong kỳSố lượng tồn đầu kỳ+Số lượng nhập trong kỳ\text{Đơn giá bình quân} = \dfrac{\text{Giá trị tồn đầu kỳ} + \text{Giá trị nhập trong kỳ}}{\text{Số lượng tồn đầu kỳ} + \text{Số lượng nhập trong kỳ}}

Mọi đơn vị xuất ra dùng chung đơn giá này. Doanh nghiệp có thể tính bình quân một lần vào cuối kỳ hoặc tính lại sau mỗi lần nhập. Cách này làm mượt biến động giá nên giá vốn ít dao động hơn FIFO.

Ví dụ phương pháp tính giá xuất kho

Số dưới đây là giả định minh hoạ, đơn vị nghìn đồng. Đầu kỳ tồn 100 sản phẩm đơn giá 10, tức 1.000. Trong kỳ nhập thêm 100 sản phẩm đơn giá 12, tức 1.200. Doanh nghiệp bán 120 sản phẩm với giá 15, doanh thu 1.800.

Minh họa Phương pháp tính giá xuất kho: cảnh quầy thuế và phòng kế toán

Chỉ tiêu

FIFO

Bình quân gia quyền

Đơn giá xuất

10 và 12

11

Giá vốn 120 sản phẩm

1.240

1.320

Hàng tồn cuối kỳ 80 sản phẩm

960

880

Lợi nhuận gộp

560

480

FIFO lấy 100 sản phẩm giá 10 cộng 20 sản phẩm giá 12 thành 1.240. Bình quân lấy 120 sản phẩm giá 11 thành 1.320. Hai cột cùng cộng giá vốn và tồn kho ra 2.200. Lợi nhuận gộp chênh 80, hoàn toàn do cách chia.

Nếu đơn giá nhập lần hai giảm còn 8, kết quả đảo chiều. Giá vốn FIFO là 1.160, giá vốn bình quân là 1.080, nên bình quân cho lợi nhuận gộp cao hơn.

Số thật của MWG

Cổ phiếu MWG của Thế Giới Di Động là doanh nghiệp bán lẻ, hàng tồn kho là khoản mục lớn nhất của vốn lưu động. Bài không nói doanh nghiệp dùng phương pháp nào, vì điều đó thuộc thuyết minh BCTC. Số đến Q2/2026 như sau.

Khoản mục

Giá trị (tỷ đồng)

Hàng tồn kho theo giá gốc

31.599,2

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho

724,3

Hàng tồn kho ròng

30.874,9

Giá vốn hàng bán quý II

37.942,1

Giá vốn quý II bằng 37.942,1 tỷ đồng trong 91 ngày. Tồn kho ròng cuối kỳ tương đương khoảng 74 ngày giá vốn, tính trên số cuối kỳ. Dự phòng bằng 2,3% giá gốc. Hai con số này cho thấy mỗi biến động nhỏ của giá vốn hay tồn kho đều tính bằng hàng trăm tỷ đồng. Cách đọc vòng quay nằm ở vòng quay hàng tồn kho.

Giới hạn khi so sánh doanh nghiệp

Thứ nhất, hai doanh nghiệp cùng ngành chọn khác phương pháp sẽ báo giá vốn khác nhau dù hàng và giá nhập giống nhau. Cần đọc thuyết minh trước khi so biên lợi nhuận gộp.

Minh họa Phương pháp tính giá xuất kho: cảnh quầy thuế và phòng kế toán

Thứ hai, lạm phát giá nhập làm chênh lệch giữa hai cách lớn hơn. Ngành có giá nguyên liệu biến động mạnh nhạy hơn với lựa chọn này.

Thứ ba, đổi phương pháp giữa các kỳ làm số liệu không còn so sánh được. Doanh nghiệp phải nêu rõ lý do và ảnh hưởng. Với nhà đầu tư cổ phiếu, lợi nhuận gộp tăng đột ngột đôi khi chỉ do đổi cách tính, nên đọc thuyết minh trước khi kết luận về sức khoẻ kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

FIFO và bình quân, cách nào đúng hơn?

Cả hai đều hợp lệ khi áp dụng nhất quán. Cách nào phù hợp hơn tuỳ đặc điểm hàng hoá và cách doanh nghiệp quản lý kho.

Đổi phương pháp tính giá xuất kho có làm tổng lợi nhuận cả đời đổi không?

Không. Tổng giá trị hàng bán và hàng còn lại không đổi. Phương pháp chỉ đổi thời điểm ghi nhận giá vốn giữa các kỳ.

Phương pháp này ảnh hưởng thuế thế nào?

Giá vốn khác thì lợi nhuận chịu thuế từng kỳ khác. Chi tiết thuế phụ thuộc quy định hiện hành, nên tham khảo nguồn pháp lý chính thức.

Doanh nghiệp có dùng nhiều phương pháp cho các loại hàng khác nhau không?

Có thể, nhưng mỗi nhóm hàng phải áp dụng nhất quán. Thuyết minh BCTC nêu cách tính cho từng nhóm.

Học sâu: hàng tồn kho, giá trị thuần có thể thực hiện và giá biến động.

Học tiếp: hàng tồn kho, giá vốn hàng bán và vòng quay hàng tồn kho.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/06/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…