Lãi suất huy động là gì
Nội dung bài6 phần
Lãi suất huy động là gì? Đó là mức lãi ngân hàng trả cho người gửi tiền và nhà đầu tư giấy tờ có giá để có vốn cho vay. Với ngân hàng, lãi suất huy động là chi phí vốn, yếu tố quyết định biên lãi ròng.
Điểm chính
- Lãi suất huy động khác nhau theo kỳ hạn, loại tiền và hình thức. Kỳ hạn dài thường cao hơn, tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất.
- Nhà đầu tư không có biểu lãi suất chi tiết, nhưng ước tính được chi phí huy động bình quân bằng chi phí lãi chia nguồn vốn chịu lãi.
- Cổ phiếu HDB có chi phí huy động bình quân ước tính 4,6% năm 2025. Quý II/2026 quy năm hoá là 6,1%.
Lãi suất huy động
Mỗi ngân hàng niêm yết biểu lãi suất tiền gửi theo kỳ hạn, cho từng nhóm khách hàng. Lãi suất thay đổi theo thanh khoản của hệ thống và chiến lược huy động. Ngân hàng cần vốn thì tăng lãi suất để thu hút. Ngân hàng dư vốn thì giảm.

Ngân hàng Nhà nước có thể đặt trần lãi suất huy động cho một số kỳ hạn ngắn. Mức trần và phạm vi áp dụng thay đổi, nên cần xem thông báo hiện hành.
Với người gửi, lãi suất niêm yết là lãi suất danh nghĩa. Nếu lãi trả hàng tháng và được gửi lại, lãi suất thực nhận mỗi năm cao hơn:
Trong đó r là lãi suất danh nghĩa một năm, n là số lần nhập lãi trong năm. Với lãi 5,0% một năm nhập lãi hàng tháng, lãi suất hiệu dụng là 5,12%. Gửi 500 triệu đồng được 25,58 triệu đồng sau một năm thay vì 25 triệu đồng.
Với ngân hàng, chi phí huy động bình quân là chỉ tiêu tổng hợp:
Nguồn vốn chịu lãi gồm tiền gửi khách hàng, tiền gửi và vay của tổ chức tín dụng, vay Ngân hàng Nhà nước và giấy tờ có giá đã phát hành.
Ví dụ lãi suất huy động của HDB
Cổ phiếu HDB có BCTC hợp nhất đến Q2/2026, dữ liệu đến ngày 30/06/2026. Bài tính chi phí huy động bình quân theo công thức trên. Nguồn vốn chịu lãi bình quân lấy trung bình hai đầu kỳ.
Kỳ | Chi phí lãi | Nguồn vốn chịu lãi bình quân | Chi phí huy động |
|---|---|---|---|
Năm 2024 | 27.138 tỷ đồng | 578.880 tỷ đồng | 4,7% |
Năm 2025 | 33.246 tỷ đồng | 726.311 tỷ đồng | 4,6% |
Q1/2026 (quy năm) | 45.736 tỷ đồng | 856.210 tỷ đồng | 5,3% |
Q2/2026 (quy năm) | 55.664 tỷ đồng | 906.677 tỷ đồng | 6,1% |
Chi phí lãi quý II/2026 là 13.916 tỷ đồng, nhân bốn ra 55.664 tỷ đồng. Chi phí huy động ước tính tăng từ 4,6% năm 2025 lên 6,1% quý II/2026. Mức tăng 1,5 điểm % trong hai quý là lớn so với các năm trước, khi chi phí chỉ dao động quanh 4,6% đến 4,7%.
Số dư nguồn vốn chịu lãi cuối quý II/2026 là 932.437 tỷ đồng, tăng 12,1% so với cuối năm 2025. Tiền gửi khách hàng chiếm 72,3% trong số đó. Cuối năm 2025, tỷ lệ CASA của HDB là 12,40%. Cuối Q2/2026 con số này là 11,04%.
Để tham chiếu thị trường, lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 3 tháng là 6,95% kỳ 07/2026, 6,89% kỳ 08/2026, 6,64% kỳ 09/2026 và 7,23% kỳ 10/2026. Lãi suất qua đêm dao động từ 0,99% đến 4,91% trong cùng giai đoạn. Đây là lãi suất bán buôn giữa các ngân hàng, không phải biểu huy động của khách hàng cá nhân.
Độ nhạy chi phí vốn rất quan trọng với lợi nhuận. Nếu chi phí huy động tăng thêm 0,1 điểm % và toàn bộ nguồn vốn tái định giá ngay, chi phí lãi tăng khoảng 932 tỷ đồng một năm. Con số này bằng 2,4% thu nhập lãi thuần quy năm của quý II (38.948 tỷ đồng). Thực tế không phải mọi khoản đều tái định giá cùng lúc, nên mức tác động sẽ nhỏ hơn.
Đọc chỉ số thế nào
Chi phí huy động tăng nhanh hơn lãi suất cho vay sẽ làm biên lãi ròng thu hẹp. Ngân hàng thường chuyển một phần chi phí tăng sang lãi suất cho vay, nhưng có độ trễ. Vì vậy biên lãi ròng thường thấp nhất ngay sau giai đoạn lãi suất huy động tăng nhanh.

Ngân hàng có nhiều tiền gửi không kỳ hạn chịu ảnh hưởng ít hơn khi lãi suất tăng. Ngân hàng dựa vào giấy tờ có giá và tiền gửi có kỳ hạn dài thì chi phí cứng hơn. Khi lãi suất giảm, nhóm sau hưởng lợi chậm hơn.
Nên so chi phí huy động bình quân với biên lãi ròng và tăng trưởng tín dụng cùng kỳ. Ba chỉ tiêu này kể một câu chuyện nhất quán nếu số liệu đúng.
Giới hạn khi dùng chỉ số
Thứ nhất, chi phí lãi quý II quy năm bằng cách nhân bốn nên chịu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ. Con số 6,1% chỉ để tham khảo, không phải dự báo.

Thứ hai, nguồn vốn chịu lãi bình quân lấy từ hai đầu kỳ nên che đi biến động giữa kỳ. Nếu vốn tăng mạnh vào cuối kỳ, chi phí bình quân bị ước tính thấp.
Thứ ba, chi phí lãi gồm cả lãi vay liên ngân hàng và lãi giấy tờ có giá, nên khác với lãi suất tiền gửi của khách hàng cá nhân.
Câu hỏi thường gặp
Lãi suất huy động khác lãi suất cho vay thế nào?
Lãi suất huy động là chi phí vốn của ngân hàng. Lãi suất cho vay là thu nhập. Chênh lệch giữa hai mức, sau khi tính các yếu tố khác, hình thành biên lãi ròng.
Vì sao lãi suất huy động của ngân hàng khác nhau?
Mỗi ngân hàng có nhu cầu vốn, thanh khoản và cơ cấu khách hàng khác nhau. Ngân hàng cần vốn nhiều thường chào lãi suất cao hơn.
Lãi suất huy động có tăng khi lãi suất liên ngân hàng tăng không?
Thường có độ trễ. Khi vốn bán buôn đắt, ngân hàng khó huy động rẻ trên thị trường cá nhân nên có xu hướng nâng biểu lãi suất.
Bài liên quan
Cách đọc CASA và biên lãi ròng nằm ở bài đọc báo cáo tài chính ngân hàng. Cách định giá nhóm ngân hàng khi lãi suất đổi nằm ở bài định giá cổ phiếu ngân hàng. Ví dụ trong bài chỉ để minh hoạ cách tính, không phải khuyến nghị đầu tư.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 30/06/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.