Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn là gì

Triều Tô5 phút đọc
Nội dung bài7 phần
  1. Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn là gì
  2. Nợ ngắn hạn và dài hạn: công thức
  3. Ví dụ nợ ngắn hạn, dài hạn của NT2
  4. Cách đọc nợ ngắn hạn và dài hạn
  5. Giới hạn cần nhớ
  6. Câu hỏi thường gặp
  7. Học tiếp

Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn là gì? Đó là hai nhóm công nợ phải trả phân theo thời hạn. Nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán trong vòng 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh. Nợ dài hạn đến hạn sau mốc đó.

Điểm chính

  • Mốc phân loại là 12 tháng kể từ ngày lập báo cáo. Khoản nợ dài hạn đến hạn trả trong 12 tháng tới được chuyển sang ngắn hạn.
  • Nợ ngắn hạn so với tài sản ngắn hạn cho ra hệ số thanh toán hiện hành, thước đo khả năng trả nợ gần.
  • Cổ phiếu NT2 không có nợ dài hạn. Toàn bộ công nợ phải trả 5.686,1 tỷ đồng ngày 30/09/2026 là nợ ngắn hạn, và hệ số thanh toán hiện hành là 1,77 lần.

Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn là gì

Nợ ngắn hạn gồm vay ngắn hạn, phải trả người bán, người lao động, thuế phải nộp, chi phí phải trả và phần nợ dài hạn đến hạn trả. Đây là các nghĩa vụ phải thanh toán sớm, thường bằng tài sản ngắn hạn.

Minh họa Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn: cảnh văn phòng phân tích tài chính

Nợ dài hạn gồm vay dài hạn, trái phiếu phát hành, nợ thuê tài chính dài hạn và phải trả dài hạn khác. Chúng thường tài trợ cho tài sản cố định và dự án lớn.

Cách phân loại này cho người đọc biết doanh nghiệp sẽ phải trả bao nhiêu tiền sớm. Nợ ngắn hạn lớn đòi hỏi doanh nghiệp có tiền hoặc khả năng vay mới để thay thế.

Một điểm dễ nhầm là nợ dài hạn đến hạn trả. Khi khoản vay 5 năm còn dưới 12 tháng, phần gốc phải trả được chuyển sang nợ ngắn hạn. Vì vậy nợ ngắn hạn có thể tăng đột ngột dù doanh nghiệp không vay thêm.

Nợ ngắn hạn và dài hạn: công thức

Hai tỷ số hay dùng. Thứ nhất là hệ số thanh toán hiện hành:

Hệ số thanh toán hiện hành=Tài sản ngắn hạnNợ ngắn hạn\text{Hệ số thanh toán hiện hành} = \dfrac{\text{Tài sản ngắn hạn}}{\text{Nợ ngắn hạn}}

Thứ hai là tỷ trọng nợ ngắn hạn:

Tỷ trọng nợ ngắn hạn=Nợ ngắn hạnNợ phải trả\text{Tỷ trọng nợ ngắn hạn} = \dfrac{\text{Nợ ngắn hạn}}{\text{Nợ phải trả}}

Ví dụ giả định về chuyển loại. Doanh nghiệp vay dài hạn 1.000 tỷ đồng, trả đều 200 tỷ đồng mỗi năm.

Thời điểm

Dư nợ

Phần ngắn hạn

Phần dài hạn

Ngày vay

1.000

200

800

Sau 1 năm

800

200

600

Sau 2 năm

600

200

400

Sau 4 năm

200

200

0

Đến năm thứ tư, khoản vay không còn phần dài hạn. Toàn bộ 200 tỷ đồng còn lại là nợ ngắn hạn, dù thời hạn hợp đồng gốc là 5 năm.

Ví dụ nợ ngắn hạn, dài hạn của NT2

Cổ phiếu NT2 có bảng cân đối hợp nhất ngày 30/09/2026, đơn vị tỷ đồng.

Khoản mục

Số liệu

Vay ngắn hạn

1.795,8

Phải trả người bán

2.637,4

Các khoản ngắn hạn khác

1.252,9

Nợ ngắn hạn

5.686,1

Nợ dài hạn

0

Công nợ phải trả

5.686,1

Tài sản ngắn hạn

10.059,1

Nợ ngắn hạn chiếm 100% công nợ phải trả. Hệ số thanh toán hiện hành là 10.059,1 chia 5.686,1, bằng 1,77 lần. Công nợ phải trả bằng 51,2% tổng tài sản 11.107,5 tỷ đồng. Nó bằng 1,05 lần vốn chủ sở hữu 5.421,4 tỷ đồng.

Dù toàn bộ nợ là ngắn hạn, rủi ro thanh toán trên bảng cân đối không cao. Phải trả người bán chiếm 46,4% công nợ và là nợ không lãi. Vay ngắn hạn có lãi chỉ 1.795,8 tỷ đồng. Tiền và đầu tư ngắn hạn là 5.374,1 tỷ đồng, lớn hơn vay ngắn hạn 3.578,3 tỷ đồng.

Vay ngắn hạn của NT2 quay vòng nhanh. Chín tháng đầu năm 2026, doanh nghiệp vay mới 3.456,9 tỷ đồng và trả gốc 3.423,4 tỷ đồng. Dư nợ đầu năm chỉ 1.762,3 tỷ đồng. Tổng trả gốc gấp 1,94 lần dư nợ đầu năm, nên các khoản vay được trả rồi vay lại nhiều lần. Dư nợ ròng chỉ tăng 33,5 tỷ đồng, từ 1.762,3 lên 1.795,8.

Cách đọc nợ ngắn hạn và dài hạn

Hệ số thanh toán hiện hành trên 1 cho thấy tài sản ngắn hạn đủ trả nợ ngắn hạn. Mức cần thiết tuỳ ngành. Ngành thu tiền đều có thể chấp nhận mức thấp hơn ngành theo mùa vụ.

Minh họa Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn: cảnh văn phòng phân tích tài chính

Nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn là điểm cần chú ý. Nếu doanh nghiệp dùng vay ngắn để xây nhà máy, ngân hàng không gia hạn sẽ tạo áp lực lớn. Ngược lại, dùng nợ dài hạn cho vốn lưu động thường làm chi phí lãi cao hơn.

Cần xem chất lượng tài sản ngắn hạn. Phải thu khó thu hay hàng tồn kho chậm bán làm hệ số trông tốt hơn thực tế.

Giới hạn cần nhớ

Thứ nhất, mốc 12 tháng là quy ước. Khoản nợ đến hạn sau 12 tháng một ngày vẫn là dài hạn.

Thứ hai, hệ số thanh toán hiện hành là ảnh chụp một ngày. Dòng tiền thực tế sau đó mới quyết định khả năng trả nợ.

Thứ ba, NT2 thuộc ngành điện. Không dùng mức 1,77 lần để so với ngành bán lẻ hay xây dựng.

Thứ tư, cơ cấu nợ của NT2 có thể đổi nhanh nếu doanh nghiệp vay dài hạn cho dự án mới.

Câu hỏi thường gặp

Nợ ngắn hạn cao có nguy hiểm không?

Không nhất thiết. Nếu tài sản ngắn hạn và dòng tiền đủ trả thì nợ ngắn hạn cao vẫn an toàn. Nguy cơ nằm ở khoản vay ngắn dùng cho tài sản dài hạn.

Phải trả người bán là nợ ngắn hạn hay dài hạn?

Thường là nợ ngắn hạn vì thời hạn trả dưới 12 tháng. Phải trả người bán dài hạn chỉ xuất hiện khi hợp đồng cho trả chậm hơn một năm.

Vì sao nợ dài hạn đến hạn trả nằm ở ngắn hạn?

Vì doanh nghiệp phải trả trong 12 tháng tới. Phân loại theo thời gian còn lại đến hạn, không theo thời hạn hợp đồng ban đầu.

Học tiếp

Xem thêm hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nhanh và vốn lưu động. Bức tranh tổng thể nằm ở bảng cân đối kế toán. Ví dụ trên chỉ để minh hoạ cách đọc, không phải khuyến nghị đầu tư.

Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 26/10/2026

Ứng dụng HODL

Tải app HODL

Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.

Watchlist

Đang tải…