Chi phí cố định và chi phí biến đổi là gì
Nội dung bài6 phần
Chi phí cố định và biến đổi là gì? Chi phí cố định là khoản doanh nghiệp vẫn phải trả dù sản lượng đổi, trong một khoảng nhất định. Chi phí biến đổi là khoản tăng giảm gần như cùng nhịp với sản lượng hoặc doanh thu.
Điểm chính
- Chi phí cố định (định phí) như khấu hao, thuê mặt bằng, lương quản lý. Chi phí biến đổi (biến phí) như nguyên liệu, hoa hồng, vận chuyển.
- Báo cáo tài chính không tách hai loại này. Nhà đầu tư phải tự phân loại từng dòng và nêu rõ giả định.
- Cổ phiếu TNG năm 2025 có chi phí cố định ước tính 920,0 tỷ đồng, bằng 10,6% doanh thu. Doanh thu lệch 10% thì lợi nhuận hoạt động lệch gần 30%.
Chi phí cố định và biến đổi
Hai loại này khác nhau ở cách phản ứng với sản lượng. Tên dòng trên báo cáo không quyết định điều đó. Tiền điện, tiền lương hay vận chuyển có thể thuộc cả hai nhóm. Điều đó tuỳ cách doanh nghiệp tổ chức sản xuất.

Chi phí cố định giữ nguyên trong một khoảng công suất. Khi nhà máy chạy từ 60% lên 90% công suất, khấu hao máy móc vẫn không đổi. Chi phí cố định chỉ nhảy bậc khi doanh nghiệp mở thêm nhà máy hoặc thuê thêm kho.
Chi phí biến đổi tăng theo từng đơn vị bán ra. Mỗi áo xuất khẩu cần thêm vải, chỉ, bao bì và công may. Bán gấp đôi số áo thì tổng chi phí này xấp xỉ gấp đôi.
Có một nhóm thứ ba là chi phí hỗn hợp. Hoá đơn điện gồm một phần cơ bản và một phần theo số giờ chạy máy. Chi phí bán hàng gồm lương nhân viên cố định và hoa hồng theo doanh số.
Tổng chi phí của doanh nghiệp được viết như sau:
Trong đó Q là sản lượng bán ra. Khi Q tăng, chi phí cố định được chia cho nhiều đơn vị hơn nên chi phí trung bình giảm dần:
Đây là lý do doanh nghiệp có chi phí cố định lớn luôn muốn lấp đầy công suất.
Ví dụ chi phí cố định và biến đổi
Cổ phiếu TNG là doanh nghiệp may mặc xuất khẩu, dữ liệu BCTC hợp nhất năm 2025. Bảng dưới phân loại từng dòng theo giả định của HODL.VN, vì báo cáo không tách sẵn.
Khoản mục | Số tiền (tỷ đồng) | Phân loại giả định |
|---|---|---|
Doanh thu thuần | 8.698,6 | |
Giá vốn hàng bán | 7.459,4 | Biến đổi, trừ phần khấu hao |
Khấu hao tài sản cố định | 249,9 | Cố định, tính trong giá vốn |
Chi phí bán hàng | 101,3 | Biến đổi |
Chi phí quản lý doanh nghiệp | 457,9 | Cố định |
Chi phí lãi vay | 212,2 | Cố định |
Cách tính từ bảng trên:
Bước | Số liệu |
|---|---|
Chi phí biến đổi = 7.459,4 − 249,9 + 101,3 | 7.310,8 tỷ đồng |
Chi phí biến đổi trên doanh thu | 84,0% |
Chi phí cố định = 249,9 + 457,9 + 212,2 | 920,0 tỷ đồng |
Chi phí cố định trên doanh thu | 10,6% |
Lợi nhuận hoạt động = 8.698,6 − 7.310,8 − 920,0 | 467,8 tỷ đồng |
Con số 467,8 tỷ đồng gần với lợi nhuận trước thuế 484,7 tỷ đồng trên báo cáo. Phần chênh 16,9 tỷ đồng đến từ thu nhập tài chính và thu nhập khác. Bài này bỏ hai khoản đó.
Tiếp theo là kịch bản khi doanh thu đổi 10% nhờ sản lượng. Chi phí biến đổi đổi theo, còn 920,0 tỷ đồng chi phí cố định giữ nguyên.
Kịch bản | Lợi nhuận hoạt động | Thay đổi |
|---|---|---|
Doanh thu tăng 10% | 606,6 tỷ đồng | +29,7% |
Doanh thu giảm 10% | 329,0 tỷ đồng | −29,7% |
Doanh thu chỉ đổi 10% mà lợi nhuận đổi gần 30%. Hiệu ứng này gọi là đòn bẩy hoạt động. Chi phí cố định càng lớn thì lợi nhuận càng nhạy với doanh thu.
Số liệu hai quý cho thấy chi phí không đổi đồng đều. Doanh thu Q3/2026 là 3.229,0 tỷ đồng, cao hơn 65,4% so với 1.952,0 tỷ đồng của Q1/2026. Giá vốn tăng 61,5%. Chi phí quản lý chỉ tăng 33,5%, từ 101,0 lên 134,8 tỷ đồng. Chi phí quản lý chiếm 5,2% doanh thu quý I và 4,2% quý III. Đó là đặc tính của chi phí cố định.
Đọc chi phí cố định và biến đổi
Tỷ trọng chi phí cố định cao nghĩa là doanh nghiệp lời nhiều khi bán tốt. Khi bán kém, họ cũng thiệt nhiều. Tỷ trọng thấp cho kết quả ổn định hơn. Đổi lại, lợi nhuận tăng chậm hơn khi doanh thu bứt phá.

Cấu trúc chi phí khác nhau theo ngành. Dệt may và thương mại thường có tỷ trọng biến đổi cao vì nguyên liệu và hàng hoá chiếm phần lớn. Điện, cảng, đường sắt hay khu công nghiệp có định phí lớn vì tài sản đã đầu tư sẵn. Ngân hàng không hợp với cách chia này. Lãi vay của ngân hàng là chi phí vốn, không phải chi phí sản xuất.
Nên đọc chi phí cố định cùng chu kỳ ngành. Khi đơn hàng tăng, công ty nhiều định phí tăng lợi nhuận nhanh. Khi đơn hàng giảm, họ cũng giảm lợi nhuận nhanh, và chi phí lãi vay vẫn phải trả đủ.
Giới hạn khi phân loại chi phí
Thứ nhất, cách chia ở trên là giả định. Với TNG, lương công nhân nằm trong giá vốn và có thể một phần là cố định. Nếu coi 30% giá vốn là cố định, chi phí cố định cao hơn nhiều. Mức nhạy của lợi nhuận cũng khác.

Thứ hai, khấu hao có thể nằm trong cả giá vốn lẫn chi phí quản lý. Bài này giả định toàn bộ khấu hao thuộc giá vốn để tránh cộng trùng.
Thứ ba, chi phí cố định chỉ cố định trong một khoảng công suất. Khi nhu cầu vượt công suất, doanh nghiệp phải đầu tư thêm và định phí nhảy bậc.
Câu hỏi thường gặp
Tiền lương là chi phí cố định hay biến đổi?
Lương khoán theo sản phẩm là biến đổi. Lương cơ bản trả theo tháng cho đội ngũ ổn định gần với cố định. Báo cáo tài chính không tách hai phần này nên cần giả định.
Khấu hao có phải chi phí cố định không?
Với phương pháp đường thẳng thì có. Khấu hao mỗi kỳ không đổi theo sản lượng. Một số doanh nghiệp dùng phương pháp khấu hao theo sản lượng thì khác.
Lãi vay là chi phí cố định hay biến đổi?
Thường được xếp vào cố định vì phải trả theo hợp đồng vay, bất kể doanh thu. Một số bài phân tích tách nó riêng khỏi chi phí hoạt động.
Bài liên quan
Cách ghi nhận từng loại chi phí nằm ở bài học ghi nhận chi phí. Cách đọc từng dòng theo tỷ lệ trên doanh thu nằm ở bài học common size kết quả kinh doanh. Ví dụ trong bài chỉ để minh hoạ cách tính, không phải khuyến nghị đầu tư.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 31/12/2025
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.