USDT, USDC tại Việt Nam: tình trạng pháp lý đến năm 2026
Nội dung bài4 phần
USDT của Tether và USDC có được phép sử dụng ở Việt Nam năm 2026 không? Đây là câu hỏi người cầm tài sản mã hóa hỏi nhiều. Câu trả lời phụ thuộc vào việc bạn dùng chúng để làm gì. Thanh toán, nắm giữ và mua bán là ba chuyện khác nhau trước pháp luật. Bài này tách từng chuyện, với quy định và dữ liệu đến 02/10/2026.
Dùng USDT, USDC để trả tiền hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam là dùng phương tiện thanh toán không hợp pháp.
Nghị quyết 05/2025/NQ-CP cho nhà đầu tư trong nước đang có tài sản mã hóa mở tài khoản tại tổ chức được cấp phép.
Việc chào bán, giao dịch, thanh toán tài sản mã hóa trong thí điểm phải bằng Đồng Việt Nam.
Sau 6 tháng kể từ khi tổ chức đầu tiên được cấp phép, giao dịch ngoài kênh được cấp phép có thể bị phạt.
USDT và USDC là gì
USDT và USDC là hai stablecoin neo theo đô la Mỹ. USDT do Tether phát hành. USDC do công ty Circle phát hành. Cả hai cam kết một token đổi được khoảng 1 USD. Cam kết đó dựa vào khoản dự trữ do bên phát hành nắm giữ.
Hai token này lưu hành trên nhiều chuỗi khối cùng lúc. Chúng là cặp định giá phổ biến trên các sàn quốc tế. Nhiều người Việt cầm USDT, USDC như chỗ trú tạm. Họ bán tài sản mã hóa khác nhưng chưa rút về tiền đồng.
Điều quan trọng là cả Tether lẫn Circle đều là doanh nghiệp nước ngoài. Khoản dự trữ của họ chịu luật của nước nơi họ đăng ký. Khi bên phát hành gặp sự cố, không cơ quan nào trong nước đứng ra bảo vệ người dùng.
Một điểm nữa thường bị bỏ qua là quyền phong tỏa. Các bên phát hành stablecoin lớn có thể đóng băng token tại một địa chỉ ví. Họ làm vậy theo yêu cầu của cơ quan chức năng nước họ. Người cầm token ở Việt Nam gần như không có cách khiếu nại hiệu quả trong trường hợp đó.
USDT, USDC, Tether được phép 2026

Với thanh toán năm 2026, câu trả lời là không. Hãy xem Nghị định 52/2024/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt. Khoản 10 Điều 3 liệt kê các phương tiện thanh toán. Danh sách gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, thẻ ngân hàng và ví điện tử. Ngân hàng Nhà nước có thể quy định thêm phương tiện khác.
Khoản 11 Điều 3 coi mọi phương tiện ngoài danh sách là phương tiện thanh toán không hợp pháp. Khoản 6 Điều 8 cấm phát hành, cung ứng và sử dụng loại phương tiện này. USDT và USDC không có trong danh sách. Dùng chúng để trả tiền hàng, tiền dịch vụ hay tiền thuê nhà vì vậy là hành vi bị cấm.
Nghị quyết 05/2025/NQ-CP cũng không mở lối cho việc này. Nghị quyết có hiệu lực từ 09/09/2025. Khoản 7 Điều 4 yêu cầu giao dịch, thanh toán tài sản mã hóa bằng Đồng Việt Nam. Khoản 8 Điều 4 nói tài sản mã hóa dùng để trao đổi hoặc đầu tư. Không có quy định nào biến tài sản mã hóa thành phương tiện trả tiền hàng ngày.
USDT, USDC: được phép sử dụng 2026
Nắm giữ thì khác. Hãy đọc khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 05/2025/NQ-CP. Nhà đầu tư trong nước đang có tài sản mã hóa được mở tài khoản tại tổ chức do Bộ Tài chính cấp phép. Tài khoản này dùng để lưu ký, mua, bán tài sản mã hóa tại Việt Nam. Nói cách khác, nghị quyết thừa nhận người Việt đang giữ tài sản mã hóa. Nó mở một cửa hợp pháp cho số tài sản đó.
Bộ Tài chính bắt đầu nhận hồ sơ cấp phép từ ngày 20/01/2026. Khoản 2 Điều 7 của nghị quyết đặt ra mốc chuyển đổi. Mốc này tính từ khi tổ chức đầu tiên được cấp phép. Sau 6 tháng, nhà đầu tư trong nước phải giao dịch qua kênh được cấp phép.
Vậy USDT hay USDC có được giao dịch trên kênh đó không? Nghị quyết không nêu danh mục. Điểm k khoản 2 Điều 15 để tổ chức được cấp phép tự chọn tài sản đưa vào giao dịch. Tổ chức đó phải báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước. Muốn biết một token có được giao dịch không, hãy xem danh mục từng tổ chức công bố.
Một lưu ý thực tế khác là thuế. Khoản 9 Điều 4 của nghị quyết nói thuế với giao dịch tài sản mã hóa áp dụng như thuế với chứng khoán. Quy định này kéo dài cho tới khi có chính sách thuế riêng cho thị trường tài sản mã hóa. Mua bán USDT, USDC trên kênh được cấp phép vì vậy cũng phát sinh nghĩa vụ thuế như các tài sản mã hóa khác.
Dù được giao dịch, giá vẫn phải tính bằng tiền đồng. Mua USDT trên kênh được cấp phép nghĩa là trả tiền đồng, không phải đổi đô la lấy USDT. Đây là khác biệt lớn so với các sàn quốc tế.
Rủi ro dù được phép nắm giữ

Nghị định 284/2026/NĐ-CP về xử phạt có hiệu lực từ 01/09/2026. Khoản 1 Điều 9 nhắm vào nhà đầu tư trong nước giao dịch ngoài kênh được cấp phép. Mức phạt từ 30 triệu đến 50 triệu đồng. Mức này áp cho tổ chức. Theo khoản 2 Điều 4, cá nhân bị phạt bằng một nửa, tức từ 15 triệu đến 25 triệu đồng. Mức phạt này gắn với mốc 6 tháng nêu ở trên.
Rủi ro thứ hai đến từ quy định phòng, chống rửa tiền. Luật 23/2026/QH16 sửa Luật Phòng, chống rửa tiền, có hiệu lực từ 01/12/2026. Luật bổ sung Điều 33a với 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Một số dấu hiệu chạm thẳng vào thói quen dùng USDT, USDC:
- Chia nhỏ giao dịch thành nhiều khoản dưới ngưỡng phải nhận biết khách hàng.
- Nhiều tài khoản không liên quan cùng chuyển tài sản về một địa chỉ ví.
- Giao dịch với tổ chức cung cấp dịch vụ không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ.
- Đổi tài sản mã hóa sang tiền pháp định trong điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ.
Tổ chức được cấp phép sẽ xem xét các giao dịch này. Nếu có cơ sở nghi ngờ, họ báo cáo Ngân hàng Nhà nước. Người dùng không bị phạt chỉ vì một dấu hiệu, nhưng tài khoản có thể bị giám sát chặt hơn.
Rủi ro thứ ba là mua bán trực tiếp giữa cá nhân. Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 05/2025/NQ-CP nói rõ mọi giao dịch phải qua tổ chức được cấp phép. Kiểu chuyển khoản ngân hàng cho người lạ để nhận USDT về ví không nằm trong khung này. Kẻ lừa đảo cũng hay dùng kênh này. Bài đầu tư chứng khoán quốc tế lừa đảo mô tả nhiều kịch bản như vậy.
Nội dung để tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.
Duyệt bởi Ban biên tập HODL.VN · Cập nhật 26/10/2026
Ứng dụng HODL
Tải app HODL
Bảng giá, cảnh báo giá và bài phân tích ngay trên điện thoại.